Rx Thuốc này chỉ dùng theo đơn thuốc
Celecoxib 200 mg
Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước
khi dùng
Để xa tầm tay trẻ em
1.
Thành phần công thức thuốc
Mỗi viên nang cứng chứa
Thành phần dược chất: Celecoxib.....................................200 mg.
Thành phần tá dược: Tinh bột ngô, Lactose
monohydrate, Polyvinyl pyrrolidone (PVP) K30, Natri lauryl sulfat, Croscarmellose
Sodium (SOLUTAB), Magnesi stearate, Nang cứng số 2, màu trắng – trắng có sọc
xanh ở hai đầu nang.
2.
Dạng bào chế
Viên nang cứng.
Mô tả dạng
bào chế: Viên nang số 2, trắng – trắng, có sọc xanh ở 2 đầu nang, nang không móp méo,
trầy sướt.
3.
Chỉ định
Điều trị triệu chứng của thoái
hóa khớp (OA) và viêm khớp dạng thấp (RA).
Giảm nhẹ các dấu hiệu và triệu chứng
của viêm khớp tự phát thiếu niên (JIA) ở bệnh nhân 2 tuổi trở lên cân nặng tối
thiểu 10 kg.
Giảm nhẹ các dấu hiệu và triệu chứng
của viêm cột sống dính khớp.
Kiểm soát đau cấp tính.
Điều trị thống kinh nguyên phát.
4. Cách dùng,
liều dùng
Viên nang cứng Celecoxib, với liều dùng đến 200 mg x 2 lần/ngày có thể
dùng cùng thức ăn hoặc không.
Do các nguy cơ với tim mạch của celecoxib có thể tăng theo liều và thời
gian dùng thuốc, nên dùng liều thấp nhất trong thời gian ngắn nhất có thể.
Người lớn:
Điều trị triệu chứng trong thoái hóa khớp (OA): liều khuyến nghị
của celecoxib là 200 mg dùng liều đơn hoặc 100 mg, 2 lần mỗi ngày.
Điều trị triệu chứng trong viêm khớp dạng thấp (RA): liều khuyến nghị
của celecoxib là 100 mg hoặc 200 mg 2 lần mỗi ngày.
Viêm cột sống dính khớp (AS): liều khuyến nghị của celecoxib là 200 mg dùng liều đơn hoặc 100 mg 2
lần mỗi ngày. Một số bệnh nhân có thể tốt hơn nếu dùng tổng liều mỗi ngày 400
mg.
Kiểm soát đau cấp tính: liều khởi đầu theo khuyến cáo của celecoxib là 400 mg, dùng thêm một
liều 200 mg trong ngày đầu tiên nếu cần thiết. Trong các ngày tiếp theo, liều
khuyến nghị là 200 mg 2 lần mỗi ngày khi cần.
Điều trị đau bụng kinh nguyên phát: liều khởi đầu theo khuyến cáo của celecoxib là 400 mg, dùng thêm một
liều 200 mg trong ngày đầu tiên nếu cần thiết. Trong các ngày tiếp theo, liều
khuyến nghị là 200 mg 2 lần mỗi ngày khi cần.
Những người có chuyển hóa kém CYP2C9: Những bệnh nhân đã biết hoặc nghi ngờ chuyển hóa kém qua CYP2C9 dựa
trên tiền sử/kinh nghiệm với các cơ chất khác của CYP2C9 cần thận trọng khi
dùng celecoxib. Bắt đầu điều trị với liều bằng ½ liều khuyến nghị thấp nhất
(xem phần “Tương tác, tương kỵ của thuốc” và “Đặc tính dược động học”).
Người cao tuổi
Nhìn chung không phải điều chỉnh liều. Tuy nhiên, với các bệnh nhân cao
tuổi có cân nặng dưới 50 kg, nên bắt đầu điều trị với liều khuyến nghị thấp
nhất.
Trẻ em
Viêm khớp tự phát thiếu niên (JIA)
|
Bệnh nhân
nhi (2 tuổi trở lên)
|
Liều lượng
|
|
≥ 10 kg đến ≤ 25 kg
|
Viên nang 50 mg,
2 lần mỗi ngày
|
|
> 25 kg
|
Viên nang 100 mg,
2 lần mỗi ngày
|
Celecoxib đã được nghiên cứu ở các
bệnh nhân viêm khớp tự phát thiếu niên từ 2 đến 17 tuổi. Tính an toàn và hiệu
quả của celecoxib ở trẻ em chưa được nghiên cứu trong thời gian trên 6 tháng
hoặc ở bệnh nhân có cân nặng dưới 10 kg (22 Ibs) hoặc ở bệnh nhân với biểu hiện
phát bệnh toàn thân.
Cách dùng
Với bệnh nhân khó nuốt viên nang, có thể tạo cho lượng thuốc trong viên
vào nước sinh tố táo, cháo, sữa chua hoặc chuối nghiền nát để uống cùng. Khi
đó, phải cho toàn bộ lượng thuốc vào khoảng một thìa nhỏ nước sinh tố táo,
cháo, sữa chua hoặc chuối nghiền nát ở nhiệt độ phòng và phải uống ngay với
nước. Lượng thuốc đã trộn với nước sinh tố táo, cháo hoặc sữa chua ổn định
trong khoảng 6 giờ khi bảo quản trong tủ lạnh (2oC – 8oC/35oF
– 45oF). Không được bảo quản trong tủ lạnh lượng thuốc đã trộn với
chuối nghiền nát và phải uống ngay.
Suy gan: Không cần điều chỉnh liều với các bệnh nhân suy gan nhẹ (Child-Pugh
nhóm A). Dùng celecoxib theo nửa liều khuyến nghị cho các bệnh nhân viêm khớp
hoặc bị đau trong suy gan vừa (Child-Pugh nhóm B).
Chưa có các nghiên cứu trên các bệnh nhân suy gan nặng (Child-Pugh nhóm
C) (xem phần “Cảnh báo và thận trọng khi dùng
thuốc”).
Suy thận: Không cần chỉnh liều với các bệnh nhân suy thận vừa và nhẹ. Chưa có các
nghiên cứu lâm sàng trên các bệnh nhân suy thận nặng.
Dùng kết hợp với fluconazol: Nên dùng celecoxib với nửa liều khuyến nghị trên những bệnh nhân đang
điều trị với fluconazol, một chất ức chế CYP2C9. Cần thận trọng khi dùng kết
hợp celecoxib với các chất ức chế CYP2C9 (xem phần “Tương
tác, tương kỵ của thuốc”).
5.
Chống chỉ định
- Quá mẫn cảm với hoạt chất hoặc bất kỳ tá dược
nào được liệt kê trong “Thành phần công thức thuốc”.
- Quá mẫn cảm với sulfonamides.
- Loét dạ dày tá tràng hoặc chảy máu đường tiêu
hóa (GI).
- Bệnh nhân đã trải qua hen suyễn, viêm mũi cấp
tính, polyp mũi, phù mạch, nổi mề đay hoặc các phản ứng loại dị ứng khác sau
khi dùng axit acetylsalicylic (aspirin) hoặc các loại thuốc chống viêm không
steroid khác (NSAID) bao gồm các chất ức chế COX-2.
- Trong thai kỳ và ở phụ nữ có khả năng mang
thai trừ khi sử dụng một phương pháp tránh thai hiệu quả (xem phần “Sử
dụng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú”). Celecoxib đã được chứng
minh là gây dị tật ở hai loài động vật được nghiên cứu. Khả năng nguy cơ của
con người trong thai kỳ vẫn chưa được biết, nhưng không thể loại trừ.
- Cho con bú (xem phần “Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai
và cho con bú”).
- Rối loạn chức năng gan nghiêm trọng (albumin
huyết tương < 25 g/l hoặc điểm Child-Pugh ≥ 10).
- Bệnh nhân có độ thanh thải creatinin ước tính
< 30 ml/phút.
- Bệnh viêm ruột.
- Suy tim sung huyết (NYHA II-IV).
- Bệnh tim thiếu máu cục bộ, bệnh động mạch
ngoại biên và/hoặc bệnh mạch máu não.
6. Cảnh báo và
thận trọng khi dùng thuốc
Đường tiêu hóa
Các biến chứng đường tiêu hóa trên và dưới
(thủng, loét hoặc chảy máu [PUBs]), một số dẫn đến kết quả gây tử vong, đã xảy
ra ở những bệnh nhân được điều trị bằng celecoxib. Thận trọng với việc điều trị
bệnh nhân có nguy cơ phát triển biến chứng đường tiêu hóa với NSAID cao nhất:
Người cao tuổi, bệnh nhân sử dụng bất kỳ loại thuốc NSAID hoặc thuốc chống kết
tập tiểu cầu nào khác (như axit acetylsalicylic) hoặc glucocorticoids đồng
thời, bệnh nhân sử dụng rượu hoặc bệnh nhân có tiền sử bệnh đường tiêu hóa
trước đó, chẳng hạn như loét và chảy máu GI.
Có sự gia tăng hơn nữa nguy cơ tác dụng không
mong muốn về đường tiêu hóa đối với celecoxib (loét đường tiêu hóa hoặc các
biến chứng đường tiêu hóa khác), khi celecoxib được dùng đồng thời với axit
acetylsalicylic (ngay cả ở liều thấp). Một sự khác biệt đáng kể về an toàn GI
giữa các chất ức chế COX-2 chọn lọc + axit acetylsalicylic so với NSAID + axit acetylsalicylic
chưa được chứng minh trong các thử nghiệm lâm sàng dài hạn (xem phần “Đặc
tính dược lực học”).
Sử dụng NSAID đồng thời
Nên tránh sử dụng đồng thời celecoxib và các
NSAID loại non-aspirin.
Tác dụng tim mạch
Tăng số lượng các biến cố tim mạch nghiêm
trọng (CV), chủ yếu là nhồi máu cơ tim, đã được tìm thấy trong một nghiên cứu
kiểm soát giả dược dài hạn ở những đối tượng có polyp u tuyến lẻ tẻ được điều
trị bằng celecoxib ở liều 200 mg hai lần một ngày và 400 mg hai lần một ngày so
với giả dược (xem phần “Đặc tính dược lực học”).
Vì nguy cơ tim mạch của celecoxib có thể tăng
theo liều lượng và thời gian tiếp xúc, dùng thuốc trong thời gian ngắn nhất có
thể và nên sử dụng liều hàng ngày thấp nhất có hiệu quả. NSAID, bao gồm các
chất ức chế chọn lọc COX-2, có liên quan đến tăng nguy cơ các tác dụng không
mong muốn trên tim mạch và huyết khối khi dùng lâu dài. Mức độ và thời gian chính
xác của nguy cơ liên quan đến một liều duy nhất chưa được xác định. Nhu cầu
giảm triệu chứng và đáp ứng của bệnh nhân cần được đánh giá lại định kỳ, đặc
biệt là ở những bệnh nhân bị viêm xương khớp (xem các phần “Cách
dùng, liều dùng”, “Chống chỉ định”, “Tác
dụng không mong muốn” và “Đặc tính dược lực học”).
Bệnh nhân có yếu tố nguy cơ đáng kể đối với
các biến cố tim mạch (ví dụ: tăng huyết áp, tăng lipid máu, đái tháo đường, hút
thuốc lá) chỉ nên được điều trị bằng celecoxib sau khi xem xét cẩn thận (xem
phần “Đặc tính dược lực học”).
Các chất ức chế chọn lọc COX-2 không thay thế
cho axit acetylsalicylic cho dự phòng các bệnh thuyên tắc huyết khối tim mạch
vì thiếu tác dụng chống tiểu cầu. Do đó, không nên ngừng các liệu pháp chống huyết
khối (xem phần “Đặc tính dược lực học”).
Giữ nước và phù nề
Cũng như các sản phẩm thuốc khác được biết là
ức chế tổng hợp prostaglandin, giữ nước và phù nề đã được quan sát thấy ở những
bệnh nhân dùng celecoxib. Do đó, celecoxib nên được sử dụng thận trọng ở những
bệnh nhân có tiền sử suy tim, rối loạn chức năng thất trái hoặc tăng huyết áp và
ở những bệnh nhân phù nề từ trước vì bất kỳ lý do nào khác, vì ức chế
prostaglandin có thể dẫn đến suy giảm chức năng thận và giữ nước. Yêu cầu sử
dụng cẩn thận ở những bệnh nhân dùng điều trị lợi tiểu hoặc có nguy cơ hạ huyết
áp.
Tăng huyết áp
Như với tất cả NSAIDs, celecoxib có thể dẫn
đến sự khởi đầu của tăng huyết áp mới hoặc làm trầm trọng thêm tăng huyết áp từ
trước, một trong hai có thể góp phần làm tăng tỷ lệ mắc các biến cố tim mạch.
Do đó, huyết áp nên được theo dõi chặt chẽ trong quá trình bắt đầu điều trị
bằng celecoxib và trong suốt quá trình điều trị.
Tác dụng gan và thận
Chức năng thận hoặc gan bị tổn thương và đặc
biệt là rối loạn chức năng tim có nhiều khả năng ở người cao tuổi và do đó cần
duy trì sự giám sát phù hợp về mặt y tế.
NSAID, bao gồm celecoxib, có thể gây độc tính
thận. Các thử nghiệm lâm sàng với celecoxib đã cho thấy tác dụng thận tương tự
như những gì được quan sát thấy với NSAID so sánh. Bệnh nhân có nguy cơ nhiễm
độc thận cao nhất là những người bị suy giảm chức năng thận, suy tim, rối loạn
chức năng gan, những người dùng thuốc lợi tiểu, thuốc ức chế enzym chuyển đổi
angiotensin (ACE), chất đối kháng thụ thể angiotensin II và người cao tuổi (xem
phần “Tương tác, tương kỵ của thuốc”). Những bệnh nhân như vậy nên
được theo dõi cẩn thận trong khi điều trị bằng celecoxib.
Một số trường hợp phản ứng gan nghiêm trọng,
bao gồm viêm gan bùng phát (một số có kết quả gây tử vong), hoại tử gan và suy
gan (một số gây tử vong hoặc cần ghép gan), đã được báo cáo với celecoxib.
Trong số các trường hợp báo cáo thời gian khởi phát, hầu hết các biểu hiện bất
lợi nghiêm trọng trên gan phát triển trong vòng một tháng sau khi bắt đầu điều
trị celecoxib (xem phần “Tác dụng không mong muốn”).
Nếu trong quá trình điều trị, bệnh nhân có
tình trạng xấu đi ở bất kỳ chức năng hệ thống cơ quan nào được mô tả ở trên,
cần thực hiện các biện pháp thích hợp và ngừng điều trị celecoxib.
Ức chế CYP2D6
Celecoxib ức chế CYP2D6. Mặc dù nó không phải
là một chất ức chế mạnh mẽ của enzym này, giảm liều có thể là cần thiết cho các
sản phẩm thuốc dùng liều riêng lẻ được chuyển hóa bởi CYP2D6 (xem phần “Tương
tác, tương kỵ của thuốc”).
Chất chuyển hóa kém CYP2C9
Bệnh nhân được biết đến là chuyển hóa kém
CYP2C9 nên được điều trị thận trọng (xem phần “Đặc tính dược động học”).
Phản ứng quá mẫn da và hệ thống
Phản ứng da nghiêm trọng, một số trong số đó
gây tử vong, bao gồm viêm da tróc vảy, hội chứng Stevens-Johnson và hoại tử
biểu bì nhiễm độc, đã được báo cáo là rất hiếm gặp khi kết hợp với việc sử dụng
celecoxib (xem phần “Tác dụng không mong muốn của thuốc”).
Bệnh nhân dường như có nguy cơ cao nhất đối với các phản ứng này sớm trong quá
trình điều trị: sự khởi đầu của phản ứng xảy ra trong phần lớn các trường hợp
trong tháng đầu tiên điều trị. Phản ứng quá mẫn nghiêm trọng (bao gồm sốc phản
vệ, phù mạch, phát ban, bạch cầu ái toan và các triệu chứng toàn thân (DRESS)
hoặc hội chứng quá mẫn cảm), đã được báo cáo ở những bệnh nhân dùng celecoxib
(xem phần “Tác dụng không mong muốn của thuốc”). Bệnh nhân có tiền sử dị
ứng sulfonamid hoặc bất kỳ dị ứng thuốc nào có thể có nguy cơ phản ứng da
nghiêm trọng hoặc phản ứng quá mẫn (xem phần “Chống chỉ định”).
Celecoxib nên được ngưng ở lần xuất hiện đầu tiên của phát ban da, tổn thương
niêm mạc hoặc bất kỳ dấu hiệu nào khác của quá mẫn cảm.
Tổng quát
Celecoxib có thể che giấu sốt và các dấu hiệu
viêm khác.
Sử dụng với thuốc chống đông đường uống
Ở những bệnh nhân điều trị đồng thời với
warfarin, các trường hợp chảy máu nghiêm trọng, một số gây tử vong, đã được báo
cáo. Tăng thời gian prothrombin (INR) với liệu pháp đồng thời đã được báo cáo.
Do đó, điều này nên được theo dõi chặt chẽ ở những bệnh nhân dùng thuốc chống
đông đường uống warfarin/coumarin, đặc biệt là khi bắt đầu điều trị bằng
celecoxib hoặc thay đổi liều celecoxib (xem phần “Tương tác, tương kỵ của thuốc”).
Đồng thời sử dụng thuốc chống đông máu với NSAIDs có thể làm tăng nguy cơ chảy
máu. Cần thận trọng khi kết hợp celecoxib với warfarin hoặc các chất chống đông
đường uống khác, bao gồm thuốc chống đông máu mới (ví dụ: apixaban, dabigatran
và rivaroxaban).
CẢNH BÁO TÁ DƯỢC
Viên nang có chứa lactose. Bệnh nhân có vấn
đề di truyền hiếm gặp của không dung nạp galactose, thiếu hụt lactase hoàn toàn
hoặc kém hấp thu glucose-galactose không nên dùng thuốc này.
Thuốc chứa ít hơn 1 mmol natri (23 mg) mỗi
viên nang, nghĩa là về cơ bản 'không có natri'.
7. Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con
bú
Thai kỳ
Ức chế tổng hợp prostaglandin có thể ảnh
hưởng xấu đến thai kỳ. Dữ liệu từ các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy tăng nguy
cơ sảy thai sau khi sử dụng các chất ức chế tổng hợp prostaglandin trong thời
kỳ đầu mang thai. Khả năng nguy cơ trên con người trong thai kỳ vẫn chưa được
biết, nhưng không thể loại trừ. Celecoxib, cũng như các sản phẩm thuốc khác ức
chế tổng hợp prostaglandin, có thể gây ra co bóp tử cung và đóng sớm ống động
mạch trong ba tháng cuối.
Trong quý 2 hoặc quý 3 của thai kỳ, NSAID bao
gồm celecoxib có thể gây rối loạn chức năng thận thai nhi có thể dẫn đến giảm
thể tích nước ối hoặc thiểu ối trong trường hợp nghiêm trọng. Những tác dụng
như vậy có thể xảy ra ngay sau khi bắt đầu điều trị và thường có thể đảo ngược.
Celecoxib chống chỉ định trong thai kỳ và ở
những phụ nữ có thể mang thai (xem phần “Chống chỉ định” và “Cảnh
báo và thận trọng khi dùng thuốc”). Nếu bệnh nhân mang thai trong quá
trình điều trị, celecoxib nên được ngưng.
Cho
con bú
Dùng celecoxib trên một số lượng ít phụ nữ
cho con bú đã cho thấy celecoxib vào sữa mẹ rất thấp. Phụ nữ dùng celecoxib
không nên cho con bú.
Khả
năng sinh sản
Dựa trên cơ chế hoạt động, việc sử dụng
NSAID, bao gồm celecoxib, có thể trì hoãn hoặc ngăn ngừa vỡ nang buồng trứng,
có liên quan đến vô sinh có thể đảo ngược ở một số phụ nữ.
8.Ảnh
hưởng của thuốc lên khả năng lái xe, vận hành máy móc
Celecoxib có thể ảnh hưởng nhỏ đến khả năng
lái xe và sử dụng máy móc.
Bệnh nhân bị chóng mặt hoặc buồn ngủ trong
khi dùng celecoxib nên hạn chế lái xe hoặc vận hành máy móc.
9. Tương tác, tương kỵ của thuốc
Ø Tương tác dược lực học
Thuốc chống đông máu
Hoạt động chống đông máu nên được theo dõi
đặc biệt trong vài ngày đầu sau khi bắt đầu hoặc thay đổi liều celecoxib ở bệnh
nhân dùng warfarin hoặc các thuốc chống đông máu khác vì những bệnh nhân này có
nguy cơ biến chứng chảy máu cao hơn. Do đó, bệnh nhân dùng thuốc chống đông
đường uống nên được theo dõi chặt chẽ thời gian prothrombin INR, đặc biệt là
trong vài ngày đầu tiên khi điều trị bằng celecoxib được bắt đầu hoặc liều
celecoxib được thay đổi (xem phần “Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc”).
Các trường hợp chảy máu liên quan đến sự gia tăng thời gian prothrombin đã được
báo cáo, chủ yếu ở người cao tuổi, ở những bệnh nhân dùng celecoxib đồng thời
với warfarin, một số gây tử vong.
Chống tăng huyết áp
NSAID có thể làm giảm tác dụng của các thuốc
chống tăng huyết áp bao gồm thuốc ức chế ACE, thuốc đối kháng thụ thể
angiotensin II, thuốc lợi tiểu và thuốc chẹn beta. Đối với NSAID, nguy cơ suy
thận cấp tính, thường có thể đảo ngược, có thể tăng lên ở một số bệnh nhân có
chức năng thận bị tổn thương (ví dụ: bệnh nhân mất nước, bệnh nhân lợi tiểu
hoặc bệnh nhân cao tuổi) khi thuốc ức chế ACE, chất đối kháng thụ thể
angiotensin II và/hoặc thuốc lợi tiểu được kết hợp với NSAID, bao gồm celecoxib
(xem phần “Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc”). Do đó, sự kết hợp nên
được thực hiện một cách thận trọng, đặc biệt là ở người cao tuổi. Bệnh nhân nên
được cung cấp dịch đầy đủ và cần xem xét theo dõi chức năng thận sau khi bắt
đầu điều trị và định kỳ sau đó.
Trong một nghiên cứu lâm sàng kéo dài 28 ngày
ở những bệnh nhân bị tăng huyết áp giai đoạn I và II do lisinopril kiểm soát, việc
sử dụng celecoxib 200 mg hai lần 1 ngày không dẫn đến sự gia tăng đáng kể về
mặt lâm sàng, khi so sánh với giả dược, huyết áp tâm thu hoặc tâm trương trung
bình hàng ngày được xác định bằng cách sử dụng thiết bị theo dõi 24 giờ. Trong
số các bệnh nhân được điều trị bằng celecoxib 200 mg hai lần một ngày, 48% được
coi là không phản ứng với lisinopril tại lần khám cuối cùng (được định nghĩa là
huyết áp tâm trương > 90 mmHg hoặc huyết áp tâm trương tăng > 10% so với
đường cơ sở), so với 27% bệnh nhân được điều trị bằng giả dược; Sự khác biệt
này có ý nghĩa thống kê.
Ciclosporin và tacrolimus
Dùng đồng thời NSAID và ciclosporin hoặc
tacrolimus có thể làm tăng tác dụng độc thận của ciclosporin hoặc tacrolimus.
Chức năng thận nên được theo dõi khi celecoxib và bất kỳ sản phẩm thuốc nào trong
số này được kết hợp.
Axit acetylsalicylic
Celecoxib có thể được sử dụng với axit
acetylsalicylic liều thấp nhưng không thay thế cho axit acetylsalicylic cho dự
phòng CV. Trong các nghiên cứu được đệ trình, cũng như các NSAID khác, tăng
nguy cơ loét đường tiêu hóa hoặc các biến chứng đường tiêu hóa khác so với việc
sử dụng celecoxib một mình đã được chứng minh là sử dụng đồng thời axit acetylsalicylic
liều thấp (xem phần “Đặc tính dược lực học”).
Ø Tương tác dược lực học
Tác dụng của celecoxib đối với các sản phẩm
thuốc khác
Ức chế CYP2D6
Celecoxib là một chất ức chế CYP2D6. Nồng độ
huyết tương của các sản phẩm thuốc là chất nền của enzym này có thể được tăng
lên khi celecoxib được sử dụng đồng thời. Ví dụ về các sản phẩm thuốc được
chuyển hóa bởi CYP2D6 là thuốc chống trầm cảm (thuốc trầm cảm 3 vòng và SSRIs),
thuốc thần kinh, thuốc chống rối loạn nhịp tim, v.v. Liều lượng chất nền CYP2D6
dùng liều riêng lẻ có thể cần phải giảm khi điều trị bằng celecoxib được bắt
đầu hoặc tăng lên nếu điều trị bằng celecoxib bị chấm dứt.
Việc sử dụng celecoxib 200 mg hai lần mỗi
ngày dẫn đến tăng lần lượt 2,6 lần và 1,5 lần nồng độ dextromethorphan và metoprolol
(chất nền CYP2D6). Những sự gia tăng này là do sự ức chế celecoxib của quá
trình chuyển hóa chất nền CYP2D6.
Ức chế CYP2C19
Các nghiên cứu in vitro đã chỉ ra một số tiềm năng cho
celecoxib để ức chế sự trao đổi chất xúc tác CYP2C19. Ý nghĩa lâm sàng của phát
hiện in vitro này vẫn chưa được biết. Ví dụ về các sản phẩm
thuốc được chuyển hóa bởi CYP2C19 là diazepam, citalopram và imipramin.
Methotrexat
Ở những bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp
celecoxib không có tác dụng đáng kể về mặt thống kê đối với dược động học
(huyết tương hoặc độ thanh thải thận) của methotrexat (với liều thấp khớp). Tuy
nhiên, cần xem xét giám sát đầy đủ các độc tính liên quan đến methotrexat khi
kết hợp hai sản phẩm thuốc này.
Liti
Ở những đối tượng khỏe mạnh, đồng thời sử
dụng celecoxib 200 mg hai lần mỗi ngày với 450 mg lithium hai lần mỗi ngày dẫn
đến sự gia tăng trung bình trong Cmax 16% và diện tích dưới
đường cong (AUC) là 18% lithium. Do đó, bệnh nhân điều trị lithium nên được
theo dõi chặt chẽ khi celecoxib được kê đơn hoặc ngưng sử dụng.
Thuốc tránh thai đường uống
Trong một nghiên cứu tương tác, celecoxib
không có tác dụng liên quan đến lâm sàng đối với dược động học của thuốc tránh
thai đường uống (1 mg norethisteron/35 microgram ethinylestradiol).
Glibenclamid/tolbutamid
Celecoxib không ảnh hưởng đến dược động học
của tolbutamid (chất nền CYP2C9) hoặc glibenclamid ở mức độ có liên quan đến
lâm sàng.
Tác dụng của các sản phẩm thuốc khác đối với
celecoxib
Chất chuyển hóa kém CYP2C9
Ở những người là chất chuyển hóa kém CYP2C9
và chứng minh sự tiếp xúc toàn thân tăng lên với celecoxib, điều trị đồng thời
với các chất ức chế CYP2C9 như fluconazol có thể dẫn đến tăng tiếp tục phơi
nhiễm celecoxib. Nên tránh các kết hợp như vậy đối với bệnh nhân được coi là
chuyển hóa kém CYP2C9 (xem các phần “Cách dùng, liều dùng” và “Đặc
tính dược động học”).
Chất ức chế và thuốc gây
cảm ứng CYP2C9
Vì celecoxib chủ yếu được chuyển hóa bởi
CYP2C9, nó nên được sử dụng ở một nửa liều khuyến cáo ở những bệnh nhân dùng
fluconazol. Đồng thời sử dụng 200 mg một liều celecoxib và 200 mg mỗi ngày một
lần của fluconazol, một chất ức chế CYP2C9 mạnh, dẫn đến sự gia tăng trung bình
trong Cmax 60% và trong AUC là 130%. Việc sử dụng đồng thời các
chất gây cảm ứng của CYP2C9 như rifampicin, carbamazepin và barbiturat có thể
làm giảm nồng độ huyết tương của celecoxib.
Ketoconazol và thuốc kháng
axit
Ketoconazol hoặc thuốc kháng axit chưa được
quan sát thấy ảnh hưởng đến dược động học của celecoxib.
Ø Bệnh nhân nhi
Các nghiên cứu tương tác chỉ được thực hiện ở
người lớn.
Ø Tương kỵ của thuốc:
Do không có nghiên cứu về tính tương kỵ của
thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.
10. Tác dụng không mong muốn của thuốc (ADR)
Các tác dụng không mong muốn được liệt kê
theo lớp cơ quan hệ thống và được xếp hạng theo tần số trong Bảng 1, phản
ánh dữ liệu từ các nguồn sau:
• Tác dụng không mong muốn được báo cáo ở
bệnh nhân viêm xương khớp và bệnh nhân viêm khớp dạng thấp với tỷ lệ mắc bệnh
lớn hơn 0,01% và lớn hơn so với những phản ứng được báo cáo cho giả dược trong
12 thử nghiệm lâm sàng giả dược và/hoặc kiểm soát tích cực trong thời gian lên
đến 12 tuần ở liều hàng ngày celecoxib từ 100 mg đến 800 mg. Trong các nghiên
cứu bổ sung sử dụng NSAID không chọn lọc, khoảng 7400 bệnh nhân viêm khớp đã
được điều trị bằng celecoxib với liều hàng ngày lên tới 800 mg, bao gồm khoảng
2300 bệnh nhân được điều trị trong 1 năm hoặc lâu hơn. Các tác dụng không mong
muốn được quan sát thấy với celecoxib trong các nghiên cứu bổ sung này phù hợp
với những phản ứng đối với bệnh nhân viêm xương khớp và viêm khớp dạng thấp
được liệt kê trong Bảng 1.
• Tác dụng không mong muốn được báo cáo với
tỷ lệ mắc bệnh lớn hơn giả dược cho các đối tượng được điều trị bằng celecoxib
400 mg mỗi ngày trong các thử nghiệm phòng ngừa polyp dài hạn trong thời gian
lên đến 3 năm (Phòng ngừa U tuyến với celecoxib (APC) và Phòng ngừa các thử
nghiệm Polyp tuyến lẻ tẻ đại trực tràng (PreSAP); xem phần “Đặc
tính dược lực học”, An toàn tim mạch - nghiên cứu dài hạn liên quan đến
bệnh nhân polyp tuyến lẻ tẻ).
• Tác dụng không mong muốn của thuốc từ giám
sát sau tiếp thị được báo cáo tự phát trong một khoảng thời gian trong đó ước
tính > 70 triệu bệnh nhân được điều trị bằng celecoxib (liều lượng, thời
gian và chỉ định khác nhau). Mặc dù đây được xác định là phản ứng từ các báo
cáo sau tiếp thị, dữ liệu thử nghiệm đã được tư vấn để ước tính tần suất. Tần
số dựa trên phân tích tổng hợp tích lũy với việc gộp các thử nghiệm đại diện
cho phơi nhiễm ở 38102 bệnh nhân.
Bảng 1. Tác dụng không mong muốn trong các thử
nghiệm lâm sàng celecoxib và kinh nghiệm giám sát (theo MedDRA)1,2
|
Tần số tác dụng không mong muốn
|
|
Lớp cơ quan hệ thống
|
Rất phổ biến
(≥ 1/10)
|
Thường gặp
(≥ 1/100 đến < 1/10)
|
Ít gặp
(≥ 1/1000 đến < 1/100)
|
Hiếm gặp
(≥ 1/10000 đến < 1/1000)
|
Rất hiếm
(<
1/10000)
|
Không được biết đến (không thể ước tính từ
dữ liệu có sẵn)
|
|
Nhiễm trùng và xâm nhập
|
|
Viêm
xoang, nhiễm trùng đường hô hấp trên, viêm họng, nhiễm trùng đường tiết niệu
|
|
|
|
|
|
Rối loạn máu và hệ bạch huyết
|
|
|
Thiếu
máu
|
Giảm
bạch cầu, giảm tế bào tiểu cầu
|
Thiếu
máu bất sản4
|
|
|
Rối loạn hệ miễn dịch
|
|
Quá
mẫn
|
|
|
Sốc
phản vệ4, phản ứng phản vệ4
|
|
|
Rối loạn trao đổi chất và dinh dưỡng
|
|
|
Tăng
kali máu
|
|
|
|
|
Rối loạn tâm thần
|
|
Mất
ngủ
|
Lo
lắng, trầm cảm, mệt mỏi
|
Trạng
thái nhầm lẫn, ảo giác4
|
|
|
|
Rối loạn hệ thần kinh
|
|
Chóng
mặt, căng cơ, đau đầu4
|
Nhồi
máu não1, gây mê, buồn
|
Thiếu
oxy, chứng khó đọc
|
Xuất
huyết nội sọ (bao gồm xuất huyết nội sọ gây tử vong)4, viêm màng
não vô trùng4, động kinh (bao gồm động kinh nặng hơn)4,
mất vị giác4, mất khứu giác 4
|
|
|
Rối loạn mắt
|
|
|
Nhìn
mờ, viêm kết mạc4
|
Xuất
huyết mắt4
|
Tắc
động mạch võng mạc4, tắc tĩnh mạch võng mạc4
|
|
|
Rối loạn tai và tai trong
|
|
|
Ù
tai, giảm thính giác1
|
|
|
|
|
Rối loạn tim
|
|
Nhồi
máu cơ tim1
|
Suy
tim, đánh trống ngực, nhịp tim nhanh
|
Rối
loạn nhịp tim4
|
|
|
|
Rối loạn mạch máu
|
Cao
huyết áp1 (bao gồm cả cao huyết áp trầm trọng hơn)
|
|
|
Thuyên
tắc phổi4, đỏ bừng4
|
Viêm
mạch máu4
|
|
|
Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất
|
|
Viêm
mũi, ho, khó thở1
|
Co
thắt phế quản4
|
Viêm
phổi4
|
|
|
|
Rối loạn tiêu hóa
|
|
Buồn
nôn4, đau bụng, tiêu chảy, khó tiêu, đầy hơi, nôn1, khó
nuốt1
|
Táo
bón, viêm dạ dày, viêm miệng, viêm đường tiêu hóa (bao gồm tăng nặng viêm
đường tiêu hóa), ợ chua
|
Xuất
huyết dạ dày ruột4, loét tá tràng, loét dạ dày, loét thực quản,
loét ruột, loét ruột lớn, thủng ruột, viêm thực quản, phân đen quánh, viêm
tụy, viêm đại tràng4
|
|
|
|
Rối loạn gan mật
|
|
|
Chức
năng gan bất thường, enzym gan tăng lên (bao gồm tăng SGOT và SGPT)
|
Viêm
gan4
|
Suy
gan4 (đôi khi gây tử vong hoặc cần ghép gan), viêm gan tối
cấp4 (một số có kết quả gây tử vong), hoại tử gan4,
ứ mật4, viêm gan ứ mật4, vàng da4
|
|
|
Rối loạn da và mô dưới da
|
|
Phát
ban, ngứa (bao gồm ngứa toàn cơ thể)
|
Nổi
mề đay, bầm máu4
|
Phù
mạch4, rụng tóc, nhạy cảm với ánh sáng
|
Viêm
da tẩy tế bào chết4, ban đỏ đa dạng4, hội chứng
Stevens-Johnson4, hoại tử biểu bì độc hại4, phản ứng
thuốc với bạch cầu ái toan và các triệu chứng toàn thân (DRESS) 4,bệnh
mủ ngoài cơ thể toàn thân cấp tính (AGEP)4, viêm da bóng nước4
|
|
|
Rối loạn mô cơ xương và mô liên kết
|
|
Đau
khớp4
|
Co
thắt cơ bắp (chuột rút chân)
|
|
Viêm
cơ4
|
|
|
Rối loạn thận và tiết niệu
|
|
|
Creatinin
máu tăng lên, urê máu tăng
|
Suy
thận cấp tính4, hạ huyết áp4
|
Viêm
thận mô kẽ4, hội chứng thận hư4, viêm cầu thận tổn
thương tối thiểu4
|
|
|
Hệ thống sinh sản và rối loạn vú
|
|
|
|
Rối
loạn kinh nguyệt4
|
|
Vô
sinh nữ (giảm khả năng sinh sản nữ)3
|
|
Rối loạn chung và điều kiện cơ thể
|
|
Bệnh
giống như cúm, phù ngoại vi/ giữ nước
|
Phù
mặt, đau ngực4
|
|
|
|
|
Chấn thương, ngộ độc và biến chứng
|
|
Chấn
thương (chấn thương do tai nạn)
|
|
|
|
|
|
SGOT – Serum glutamic oxaloacetic transaminase
SGPT – Serum glutamic pyruvic transaminase
1Tác dụng không mong muốn của thuốc xảy ra
trong các thử nghiệm phòng ngừa polyp, đại diện cho các đối tượng được điều
trị bằng celecoxib 400 mg mỗi ngày trong 2 thử nghiệm lâm sàng có thời gian
lên đến 3 năm (các thử nghiệm APC và PreSAP). Các tác dụng không mong muốn của
thuốc được liệt kê ở trên cho các thử nghiệm phòng ngừa polyp chỉ là những
phản ứng đã được công nhận trước đây trong kinh nghiệm giám sát sau tiếp thị
hoặc đã xảy ra thường xuyên hơn so với các thử nghiệm viêm khớp.
2 Hơn nữa, các tác dụng không mong muốn
chưa được biết đến trước đây đã
xảy ra trong các thử nghiệm phòng ngừa polyp, đại diện cho các đối tượng được
điều trị bằng celecoxib 400 mg mỗi ngày trong 2 thử nghiệm lâm sàng có thời
gian lên đến 3 năm (các thử nghiệm APC và PreSAP):
Thường gặp: Đau thắt ngực, hội
chứng ruột kích thích, sỏi thận, creatinin máu tăng, tăng sản tuyến tiền liệt
lành tính, tăng cân.
Ít gặp: Nhiễm vi khuẩn Helicobacter, Herpes zoster, bệnh viêm quầng, viêm phế quản phổi, viêm ốc tai, nhiễm
trùng nướu, u mỡ, đốm đen bay trước mắt, xuất huyết kết mạc, huyết khối tĩnh
mạch sâu, loạn âm, tai biến mạch máu não, đi tiêu thường xuyên, loét miệng,
viêm da dị ứng, hạch, tiểu đêm, xuất huyết âm đạo, đau vú, gãy xương chi
dưới, natri máu tăng lên.
3Phụ nữ có ý định mang thai bị loại khỏi tất
cả các thử nghiệm, do đó tham khảo ý kiến của cơ sở dữ liệu thử nghiệm về tần
suất của sự kiện này là không hợp lý.
4Tần số dựa trên phân tích tổng hợp tích lũy
với việc gộp các thử nghiệm đại diện cho phơi nhiễm ở bệnh nhân 38102.
|
Trong dữ liệu cuối cùng (đã được đánh giá) từ
các thử nghiệm APC và PreSAP ở những bệnh nhân được điều trị bằng celecoxib 400
mg mỗi ngày trong tối đa 3 năm (dữ liệu tổng hợp từ cả hai thử nghiệm; xem phần
“Đặc
tính dược lực học” cho kết quả từ các thử nghiệm riêng lẻ), so với giả
dược cho nhồi máu cơ tim là 7,6 trường hợp trên 1000 bệnh nhân (ít gặp) và
không trường hợp cho đột quỵ (loại không được biết đến) so với giả dược.
Báo cáo về các tác dụng không mong muốn nghi
ngờ
Báo cáo các tác dụng không mong muốn nghi ngờ
sau khi ủy quyền cho sản phẩm thuốc là rất quan trọng. Nó cho phép tiếp tục
theo dõi sự cân bằng lợi ích/rủi ro của sản phẩm thuốc. Các chuyên gia chăm sóc
sức khỏe được yêu cầu báo cáo bất kỳ tác dụng không mong muốn nghi ngờ nào
thông qua Chương trình Thẻ vàng tại www.mhra.gov.uk/yellowcard hoặc tìm kiếm
Thẻ vàng MHRA trong Google Play hoặc Apple App Store.
11.
Quá liều và cách xử trí
Không có kinh nghiệm lâm sàng về quá liều. Liều đơn lên đến
1200 mg và nhiều liều lên đến 1200 mg hai lần mỗi ngày đã được dùng cho các đối
tượng khỏe mạnh trong chín ngày mà không có tác dụng không mong muốn đáng kể về
mặt lâm sàng. Trong trường hợp nghi ngờ quá liều, chăm sóc y tế hỗ trợ thích
hợp ví dụ bằng cách loại bỏ thuốc ở dạ dày, giám sát lâm sàng và nếu cần thiết, điều trị triệu
chứng. Lọc máu không phải là một phương pháp loại bỏ sản phẩm thuốc hiệu quả do liên
kết protein cao.
12.
Đặc tính dược lực học
Nhóm dược lý: Thuốc kháng viêm không steroid.
Mã ATC: M01AH01.
Cơ chế hoạt động
Celecoxib là một chất ức chế chọn lọc COX-2 dùng đường
uống, trong phạm vi liều lâm sàng (200-400 mg mỗi ngày). Không có sự ức chế có
ý nghĩa thống kê của COX-1 (được đánh giá là ức chế ex vivo của
sự hình thành thromboxan B2 (TxB2) được quan sát thấy
trong phạm vi liều này ở những tình nguyện viên khỏe mạnh.
Hiệu ứng dược động học
Cyclooxygenase chịu trách nhiệm tạo ra prostaglandin.
Hai isoform, COX-1 và COX-2, đã được xác định. COX-2 là isoform của enzym đã được
chứng minh là gây ra bởi các kích thích gây viêm và được coi là chịu trách nhiệm
chính cho việc tổng hợp các chất trung gian prostanoid của đau, viêm và sốt. COX-2
cũng tham gia vào quá trình rụng trứng, cấy ghép và đóng ống động mạch, điều
hòa chức năng thận và chức năng hệ thần kinh trung ương (cảm ứng sốt, nhận thức
đau và chức năng nhận thức). Nó cũng có thể đóng một vai trò trong việc chữa
lành vết loét. COX-2 đã được xác định trong các mô xung quanh loét dạ dày ở người
nhưng sự liên quan của nó đối với việc chữa lành vết loét vẫn chưa được thiết lập.
Sự khác biệt trong hoạt động chống tiểu cầu giữa một số
COX-1 ức chế NSAID và các chất ức chế chọn lọc COX-2 có thể có ý nghĩa lâm sàng
ở những bệnh nhân có nguy cơ thuyên tắc huyết khối. Các chất ức chế chọn lọc
COX-2 làm giảm sự hình thành prostacyclin toàn thân (và do đó có thể có thể tác
động nội mô) mà không ảnh hưởng đến huyết khối tiểu cầu.
Celecoxib là một pyrazol thay thế diaryl, về mặt hóa học
tương tự như các sulfonamides loại non-arylamin (ví dụ: thiazides, furosemid)
và khác với arylamin sulfonamides (ví dụ: sulfamethoxizol và các kháng sinh
sulfonamid khác).
Một số tác dụng phụ thuộc vào liều lượng trên sự hình
thành TxB2 đã được quan sát thấy sau liều cao của celecoxib.
Tuy nhiên, ở những đối tượng khỏe mạnh, trong các nghiên cứu nhỏ nhiều liều với
600 mg hai lần một ngày (gấp ba lần liều khuyến cáo cao nhất) celecoxib không
có tác dụng trên kết tập tiểu cầu và thời gian chảy máu so với giả dược.
Hiệu quả lâm sàng và
an toàn
Một số nghiên cứu lâm sàng đã được thực hiện để xác nhận
hiệu quả và an toàn trong viêm xương khớp, viêm khớp dạng thấp và viêm khớp nối
khớp. Celecoxib được đánh giá để điều trị viêm và đau xương khớp đầu gối và
hông ở khoảng 4200 bệnh nhân với giả dược và các thử nghiệm kiểm soát tích cực
trong thời gian lên đến 12 tuần. Nó cũng được đánh giá để điều trị viêm và đau
viêm khớp dạng thấp ở khoảng 2100 bệnh nhân với giả dược và các thử nghiệm kiểm
soát tích cực trong thời gian lên đến 24 tuần. Celecoxib với liều hàng ngày 200
mg – 400 mg giúp giảm đau trong vòng 24 giờ sau khi dùng thuốc. Celecoxib đã được
đánh giá để điều trị triệu chứng viêm đốt sống dính khớp ở 896 bệnh nhân với giả
dược và các thử nghiệm kiểm soát tích cực trong thời gian lên đến 12 tuần.
Celecoxib ở liều 100 mg hai lần một ngày, 200 mg một lần mỗi ngày, 200 mg hai lần
một ngày và 400 mg một lần một ngày trong các nghiên cứu này đã chứng minh sự cải
thiện đáng kể về đau, tình trạng bệnh toàn cơ thể và chức năng trong viêm khớp
nối.
Năm nghiên cứu ngẫu nhiên có kiểm soát, mù đôi đã được
tiến hành bao gồm nội soi đường tiêu hóa theo phác đồ ở khoảng 4.500 bệnh nhân
không bị loét ban đầu (liều celecoxib từ 50 mg - 400 mg hai lần một ngày).
Trong mười hai tuần nghiên cứu nội soi celecoxib (100 - 800 mg mỗi ngày) có
liên quan đến nguy cơ loét dạ dày ruột thấp hơn đáng kể so với naproxen (1000
mg mỗi ngày) và ibuprofen (2400 mg mỗi ngày). Dữ liệu không nhất quán so với
diclofenac (150 mg mỗi ngày). Trong hai trong số các nghiên cứu kéo dài 12 tuần,
tỷ lệ bệnh nhân bị loét dạ dày ruột nội soi không khác biệt đáng kể giữa giả dược
và celecoxib 200 mg hai lần một ngày và 400 mg hai lần một ngày.
Trong một nghiên cứu kết quả tiềm năng an toàn lâu dài
(thời gian từ 6 đến 15 tháng, nghiên cứu CLASS), 5800 bệnh nhân viêm xương khớp
và 2200 bệnh nhân viêm khớp dạng thấp đã nhận được celecoxib 400 mg hai lần một
ngày (gấp 4 lần và gấp 2 lần liều viêm xương khớp và viêm khớp dạng thấp được đề
nghị), ibuprofen 800 mg ba lần một ngày hoặc diclofenac 75 mg hai lần một ngày
(cả ở liều điều trị). Hai mươi hai phần trăm bệnh nhân đăng ký dùng axit
acetylsalicylic liều thấp đồng thời (≤ 325 mg/ngày), chủ yếu để dự phòng CV. Đối
với các vết loét phức tạp, điểm đánh giá chính (được định nghĩa là xuất huyết
tiêu hóa, thủng hoặc tắc nghẽn) celecoxib không khác biệt đáng kể so với
ibuprofen hoặc diclofenac riêng lẻ. Ngoài ra đối với nhóm NSAID kết hợp không
có sự khác biệt đáng kể về mặt thống kê đối với các vết loét phức tạp (nguy cơ
tương đối 0,77, 95% CI 0,41-1,46, dựa trên toàn bộ thời gian nghiên cứu). Đối với
điểm đánh giá kết hợp, loét phức tạp và có triệu chứng, tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn
đáng kể ở nhóm celecoxib so với nhóm NSAID, nguy cơ tương đối 0,66, 95% CI
0,45-0,97 nhưng không phải giữa celecoxib và diclofenac. Những bệnh nhân dùng
axit acetylsalicylic liều thấp và đồng thời có tỷ lệ loét phức tạp cao gấp 4 lần
so với những người chỉ dùng celecoxib. Tỷ lệ giảm đáng kể về mặt lâm sàng trong
haemoglobin (>2 g/dL), được xác nhận bằng xét nghiệm lặp lại, thấp hơn đáng
kể ở bệnh nhân dùng celecoxib so với nhóm NSAID, nguy cơ tương đối 0,29, 95% CI
0,17- 0,48. Tỷ lệ mắc bệnh này thấp hơn đáng kể với celecoxib được duy trì có
hoặc không sử dụng axit acetylsalicylic.
Trong một nghiên cứu an toàn ngẫu nhiên 24 tuần ở những
bệnh nhân tiềm năng ≥ 60 tuổi hoặc có tiền sử loét dạ dày [người sử dụng axit
acetylsalicylic (ASA) bị loại trừ], tỷ lệ bệnh nhân giảm haemoglobin (≥ 2 g/dL)
và/hoặc haematocrit (≥ 10 %) nguồn gốc GI được xác định hoặc giả định thấp hơn ở
những bệnh nhân được điều trị bằng celecoxib 200 mg hai lần mỗi ngày (N = 2238)
so với bệnh nhân được điều trị bằng diclofenac SR 75 mg hai lần mỗi ngày cộng với
omeprazol 20 mg mỗi ngày một lần (N = 2246) (0,2 % so với 1,1 % đối với nguồn gốc
GI được xác định, p = 0,004; 0,4 % so với 2,4 % đối với nguồn gốc GI giả định,
p = 0,0001). Tỷ lệ biến chứng GI biểu hiện lâm sàng như thủng, tắc nghẽn hoặc
xuất huyết rất thấp mà không có sự khác biệt giữa các nhóm điều trị (4-5 mỗi
nhóm).
An toàn tim mạch - nghiên cứu dài
hạn liên quan đến các đối tượng có polyp tuyến lẻ tẻ
Hai nghiên cứu liên quan đến các đối tượng có polyp
tuyến lẻ tẻ đã được tiến hành với celecoxib là thử nghiệm APC và thử nghiệm
PreSAP. Trong thử nghiệm APC, đã có sự gia tăng liên quan đến liều lượng trong
điểm đánh giá tổng hợp của các trường hợp tử vong CV, nhồi máu cơ tim hoặc đột
quỵ (xét nghiệm) với celecoxib so với giả dược trong 3 năm điều trị. Thử nghiệm
PreSAP đã không chứng minh được nguy cơ gia tăng đáng kể về mặt thống kê đối với
cùng một điểm đánh giá.
Trong thử nghiệm APC, rủi ro tương đối so với giả dược
về tử vong CV, nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ là 3,4 (95% CI 1,4 - 8,5) với
celecoxib 400 mg hai lần mỗi ngày và 2,8 (95% CI 1,1 - 7,2) với celecoxib 200
mg hai lần mỗi ngày. Tỷ lệ trong 3 năm lần lượt là 3,0% (20/671 đối tượng) và
2,5% (17/685 đối tượng), so với 0,9% (6/679 đối tượng) đối với giả dược. Sự gia
tăng cho cả hai nhóm liều celecoxib so với giả dược chủ yếu là do tăng tỷ lệ nhồi
máu cơ tim.
Trong thử nghiệm PreSAP, nguy cơ tương đối so với giả
dược cho cùng một điểm đánh giá này là 1,2 (95% CI 0,6 - 2,4) với celecoxib 400
mg mỗi ngày một lần so với giả dược. Tỷ lệ tích lũy này trong 3 năm lần lượt là
2,3% (21/933 đối tượng) và 1,9% (12/628 đối tượng). Tỷ lệ nhồi máu cơ tim là
1,0% (9/933 đối tượng) với celecoxib 400 mg mỗi ngày một lần và 0,6% (4/628 đối
tượng) với giả dược.
Dữ liệu từ một nghiên cứu dài hạn thứ ba, ADAPT (Thử
nghiệm phòng chống viêm của bệnh Alzheimer), không cho thấy nguy cơ CV tăng
đáng kể với celecoxib 200 mg hai lần một ngày so với giả dược. Nguy cơ tương đối
so với giả dược đối với một điểm đánh giá tổng hợp tương tự (tử vong CV, nhồi
máu cơ tim, đột quỵ) là 1,14 (95% CI 0,61 - 2,15) với celecoxib 200 mg hai lần
mỗi ngày. Tỷ lệ nhồi máu cơ tim là 1,1% (8/717 bệnh nhân) với celecoxib 200 mg
hai lần mỗi ngày và 1,2% (13/1070 bệnh nhân) với giả dược.
Đánh giá ngẫu nhiên tiềm năng về
an toàn tích hợp celecoxib so với ibuprofen hoặc naproxen (PRECISION)
Nghiên cứu PRECISION là một nghiên cứu mù đôi về an
toàn tim mạch ở viêm khớp xương (OA) hoặc viêm khớp dạng thấp (RA) bệnh nhân có
hoặc có nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch so sánh celecoxib (200-400 mg mỗi ngày) với
naproxen (750-1000 mg mỗi ngày) và ibuprofen (1800-2400 mg mỗi ngày).
Antiplatelet Trialists Collaboration (APTC) là một tổng hợp độc lập của các trường
hợp đe doạ tính mạng liên quan tim mạch (bao gồm tử vong xuất huyết), nhồi máu
cơ tim không gây tử vong hoặc đột quỵ không gây tử vong. Nghiên cứu được lên kế
hoạch với 80% tác động để đánh giá sự chênh lệch. Tất cả bệnh nhân được kê đơn
esomeprazol (20-40 mg) để bảo vệ dạ dày. Những bệnh nhân đang dùng aspirin liều
thấp được phép tiếp tục điều trị, ở mức cơ bản gần một nửa số đối tượng đang
dùng aspirin. Các điểm đánh giá ban đầu và chính bao gồm kết quả tim mạch, tiêu
hóa và thận. Liều trung bình là 209 ± 37 mg/ngày đối với celecoxib, 2045 ± 246
đối với ibuprofen và 852 ± 103 đối với naproxen.
Về điểm đánh giá chính, celecoxib, so với naproxen hoặc
ibuprofen, đáp ứng tất cả bốn yêu cầu, xem Bảng 2.
Các dữ liệu khác bao gồm kết quả tim mạch, tiêu hóa và
thận. Ngoài ra, có một nghiên cứu dài 4 tháng tập trung vào tác dụng của ba sản
phẩm thuốc đối với huyết áp được đo bằng thiết bị theo dõi (ABPM).
Bảng 2.
Phân tích tổng hợp APTC
|
Đánh giá phân tích trong
điều trị (ITT, đến tháng 30)
|
|
celecoxib 100-200 mg hai lần
một ngày
|
ibuprofen 600-800 mg ba lần
một ngày
|
naproxen 375-500 mg hai lần
một ngày
|
|
N
|
8,072
|
8,040
|
7,969
|
|
Số trường hợp
|
188 (2,3%)
|
218 (2,7%)
|
201 (2,5%)
|
|
Đối tượng so sánh
|
celecoxib so với naproxen
|
celecoxib so với ibuprofen
|
ibuprofen so với naproxen
|
|
HR (95% CI)
|
0,93 (0,76; 1,13)
|
0,86 (0,70; 1,04)
|
1,08 (0,89; 1,31)
|
|
Đánh giá phân tích thay đổi
trong điều trị (mITT, điều trị đến tháng 43)
|
|
celecoxib 100-200 mg hai lần
một ngày
|
ibuprofen 600-800 mg ba lần
một ngày
|
naproxen 375-500 mg hai lần
một ngày
|
|
N
|
8,030
|
7,990
|
7,933
|
|
Số trường hợp
|
134 (1,7%)
|
155 (1,9%)
|
144 (1,8%)
|
|
Đối tượng so sánh
|
celecoxib so với naproxen
|
celecoxib so với ibuprofen
|
ibuprofen so với naproxen
|
|
HR (95% CI)
|
0,90 (0,72; 1,14)
|
0,81 (0,64; 1,02)
|
1,12 (0,889; 1,40)
|
HR – tỷ lệ rủi ro
Kết quả tổng thể tương tự về số lượng trong các nhóm
celecoxib và so sánh cho các điểm đánh giá ban đầu và chính nhìn chung không có
phát hiện khác.
Kết hợp nghiên cứu PRECISION chỉ ra rằng celecoxib ở
liều thấp nhất được phê duyệt là 100 mg hai lần mỗi ngày không kém ibuprofen
trong khoảng 600 mg-800 mg ba lần mỗi ngày hoặc naproxen liều trong khoảng 375
mg-500 mg hai lần mỗi ngày liên quan đến tác dụng không mong muốn trên tim mạch.
Các rủi ro tim mạch của lớp NSAID, bao gồm coxibs, phụ thuộc vào liều, do đó, kết
quả cho celecoxib 200 mg hàng ngày trên điểm đánh giá cho tim mạch tổng hợp
không thể được ngoại suy để sử dụng liều celecoxib cao hơn.
13.
Đặc tính dược động học
Hấp
thu
Celecoxib được hấp thu tốt, đạt nồng độ cao
nhất trong huyết tương sau khoảng 2-3 giờ. Dùng thuốc với thực phẩm (bữa ăn
giàu chất béo) trì hoãn sự hấp thụ celecoxib khoảng 1 giờ dẫn đến Tmax khoảng
4 giờ và tăng khả dụng sinh học khoảng 20%.
Ở những tình nguyện viên trưởng thành khỏe
mạnh, hấp thu (AUC) của celecoxib là tương đương khi celecoxib được dùng dưới
dạng viên nang hoặc bột thuốc trong nang rắc lên nước táo. Không có thay đổi
đáng kể trong Cmax, Tmax hoặc T1/2 sau
khi sử dụng bột thuốc trong viên nang rắc lên nước táo.
Phân
bố
Liên kết protein huyết tương là khoảng 97% ở
nồng độ huyết tương điều trị và thuốc không ưu tiên gắn với hồng cầu.
Chuyển
hoá
Quá trình trao đổi chất celecoxib chủ yếu được
qua cytochrom P450 2C9. Ba chất chuyển hóa, không hoạt động như chất ức chế
COX-1 hoặc COX-2, đã được xác định trong huyết tương của con người, gồm rượu bậc
nhất, axit carboxylic tương ứng và liên hợp glucuronid của nó.
Hoạt động cytochrom P450 2C9 giảm ở những
người bị đa hình di truyền dẫn đến giảm hoạt động của enzym, chẳng hạn như
những hợp tử đồng hợp tử đối với đa hình CYP2C9*3.
Trong một nghiên cứu dược động học của
celecoxib 200 mg được dùng một lần mỗi ngày ở những tình nguyện viên khỏe mạnh,
kiểu gen là CYP2C9*1/*1, CYP2C9*1/*3 hoặc CYP2C9*3/*3, Cmax trung
bình và AUC0-24 của celecoxib vào ngày thứ 7 lần lượt là khoảng
4 lần và 7 lần, trong các đối tượng được kiểu gen là CYP2C9*3/*3 so với các
kiểu gen khác. Trong ba nghiên cứu liều đơn riêng biệt, liên quan đến tổng cộng
5 đối tượng được kiểu gen là CYP2C9*3/*3, AUC0-24 liều đơn tăng
khoảng 3 lần so với các chất chuyển hóa bình thường. Người ta ước tính rằng tần
số của kiểu gen đồng hợp tử *3/*3 là 0,3-1,0% giữa các nhóm dân tộc khác nhau.
Bệnh nhân được biết đến, hoặc nghi ngờ là
chất chuyển hóa kém CYP2C9 dựa trên lịch sử/kinh nghiệm trước đây với các chất
nền CYP2C9 khác nên được dùng celecoxib một cách thận trọng (xem phần “Cách
dùng, liều dùng”).
Không có sự khác biệt đáng kể về mặt lâm sàng
được tìm thấy trong các thông số Dược động học của celecoxib giữa người Mỹ gốc
Phi cao tuổi và người da trắng.
Nồng độ huyết tương của celecoxib tăng khoảng
100% ở phụ nữ cao tuổi (> 65 tuổi).
So với các đối tượng có chức năng gan bình
thường, bệnh nhân suy gan nhẹ có mức tăng trung bình Cmax 53%
và trong AUC là 26% celecoxib. Các giá trị tương ứng ở những bệnh nhân suy gan
vừa phải lần lượt là 41% và 146%. Khả năng trao đổi chất ở những bệnh nhân suy
giảm nhẹ đến trung bình có tương quan tốt nhất với giá trị albumin của họ. Điều
trị nên được bắt đầu với một nửa liều khuyến cáo ở những bệnh nhân suy gan vừa
phải (với albumin huyết thanh 25-35 g/l). Bệnh nhân suy gan nặng (albumin huyết
thanh < 25 g/l) chưa được nghiên cứu và celecoxib chống chỉ định ở nhóm bệnh
nhân này.
Có rất ít kinh nghiệm về celecoxib trong suy
thận. Dược động học của celecoxib chưa được nghiên cứu ở những bệnh nhân suy
thận nhưng có khả năng thay đổi ở những bệnh nhân này. Do đó, thận trọng khi
điều trị bệnh nhân suy thận. Suy thận nặng chống chỉ định.
Thải
trừ
Celecoxib chủ yếu được thải trừ bởi sự quá
trình chuyển hoá. Ít hơn 1% liều dùng được bài tiết ở dạng không thay đổi trong
nước tiểu. Sự chuyển đổi của celecoxib là khoảng 10 lần. Celecoxib thể hiện
dược động học độc lập với liều và thời gian trong phạm vi liều điều trị. Chu kỳ
bán thải là 8-12 giờ. Nồng độ huyết tương trạng thái ổn định đạt được trong
vòng 5 ngày sau khi điều trị.
14. Quy cách đóng gói: Hộp 3 vỉ, 10 vỉ x
10 viên; Chai 200 viên.
15. Điều kiện bảo quản: Bảo quản thuốc ở nơi khô, thoáng, nhiệt độ dưới 300C, tránh ánh
sáng.
16. Hạn dùng của thuốc: 36 tháng kể từ ngày sản xuất.
17. Tiêu chuẩn chất lượng của thuốc: Tiêu chuẩn cơ sở.
Tên, địa chỉ của cơ sở sản xuất
CÔNG TY CỔ PHẦN US PHARMA USA
Lô B1-10, Đường D2, Khu công nghiệp Tây Bắc Củ Chi, ấp Bàu Tre 2,
xã Tân An Hội, Huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh
Mọi thắc mắc và thông tin chi tiết, xin liên
hệ số điện thoại 028-37908860