logo
Lot B1-10, D2 Street, Tay Bac Cu Chi Industrial Zone, HCMC

ROBMELOX

Đặc điểm nổi bật
Meloxicam là thuốc giảm đau, kháng viêm thuộc nhóm kháng viêm không steroid (NSAIDs).
Liên hệ
Số lượng:   Liên hệ

Hỗ trợ trực tuyến 
Điện thoại: (028) 37908860
GỌI NGAY Liên hệ

Rx

Meloxicam 7,5 mg

Thuốc này chỉ dùng theo đơn thuốc

Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng

Để xa tầm tay trẻ em

1. Thành phần công thức thuốc:

Mỗi viên nén chứa:

- Thành phần hoạt chất: Meloxicam ..............................7,5 mg

- Thành phần tá dược: Lactose, Tinh bột ngô, Avicel PH101 (Microcrystallin cellulose M101), Starch 1500 (Pregelatinized starch), Polyvinyl pyrrolidon (PVP) K30, Talc, Magnesi stearat, Colloidal silicon dioxyd (Aerosil).

2. Dạng bào chế: Viên nén.

Mô tả sản phẩm: Viên nén tròn, vát cạnh, màu vàng, một mặt khum, 1 mặt lõm có khắc vạch, cạnh và thành viên lành lặn.

3. Chỉ định

ROBMELOX là thuốc chống viêm không steroid được chỉ định điều trị triệu chứng trong:

- Viêm xương khớp (bệnh hư khớp, bệnh thoái hoá khớp)

- Viêm khớp dạng thấp

- Viêm cột sống dính khớp

4. Liều dùng, cách dùng

Liều dùng:

- Viêm xương khớp: 7,5 mg/ngày. Nếu cần thiết, liều có thể tăng lên 15 mg/ngày.

- Viêm khớp dạng thấp: 15 mg/ngày. Tùy theo đáp ứng điều trị, liều có thể giảm thành 7,5 mg/ngày.

- Viêm cột sống dính khớp: 15 mg/ngày. Tùy theo đáp ứng điều trị, liều có thể giảm thành 7,5 mg/ngày.

- Ở bệnh nhân có nguy cơ cao bị những phản ứng bất lợi: Điều trị khởi đầu với liều 7,5 mg/ngày.

- Ở bệnh nhân suy thận nặng đang lọc máu: Liều dùng không được quá 7,5 mg/ngày.

- Đối với thanh thiếu niên: Liều tối đa được khuyến cáo là 0,25 mg/kg. Nói chung, chỉ giới hạn sử dụng cho thanh thiếu niên và người lớn.

Nên sử dụng thuốc trong thời gian ngắn nhất có thể và với liều thấp nhất đem lại hiệu quả vì có khả năng phản ứng bất lợi tăng theo liều và thời gian sử dụng,

Tổng liều dùng hằng ngày của meloxicam nên được sử dụng dưới dạng đơn liều (dùng một lần). Liều tối đa hàng ngày được khuyến cáo là 15 mg với bất kỳ dạng bào chế nào.

Cách dùng: Uống nguyên viên với nước hoặc thức uống lỏng khác trong cùng bữa ăn.

5. Chống chỉ định

- Tiền căn mẫn cảm với meloxicam hoặc bất kỳ tá dược nào của thuốc.

- Bệnh nhân từng có dấu hiệu hen phế quản tiến triển, polyp mũi, phù mạch hoặc nổi mày đay sau khi dùng acid acetylsalicylic hoặc các thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) khác vì có khả năng mẫn cảm chéo.

- Sử dụng cho điều trị đau trước và sau phẫu thuật bắc cầu mạch vành (CABG).

- Gần đây có tiền sử thủng/loét đường tiêu hóa hoặc đang tiến triển.

- Bệnh viêm ruột tiến triển (bệnh Crohn hoặc viêm loét đại tràng).

- Suy gan nặng.

- Suy thận nặng chưa được lọc máu.

- Xuất huyết đường tiêu hóa rõ rệt, xuất huyết não gần đây hoặc các rối loạn xuất huyết toàn thân được xác lập.

- Suy tim nặng không kiểm soát.

- Phụ nữ có thai hoặc cho con bú.                                                                                       

- Bệnh nhân có bệnh lý di truyền hiếm gặp mà có thể không tương thích với một thành phần tá dược của thuốc.

- Trẻ em dưới 12 tuổi.

6. Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc

Cảnh báo:

Ảnh hưởng trên đường tiêu hóa (GI): Nguy cơ loét, chảy máu và thủng đường tiêu hóa

Độc tính nghiêm trọng trên đường tiêu hóa, chẳng hạn như viêm, chảy máu, loét và thủng dạ dày, ruột non hoặc ruột già, có thể xảy ra bất cứ lúc nào, có hoặc không có triệu chứng cảnh báo, ở bệnh nhân được điều trị bằng NSAIDs. Các vấn đề nhỏ tại đường tiêu hóa trên, chẳng hạn như chứng khó tiêu, thường gặp và cũng có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong khi điều trị bằng NSAIDs. Do đó, các bác sĩ và bệnh nhân nên cảnh giác về tình trạng loét và chảy máu, ngay cả khi không có các triệu chứng GI trước đó. Phải ngưng dùng meloxicam nếu xuất hiện loét dạ dày-tá tràng hoặc xuất huyết đường tiêu hoá.

Bệnh nhân cần được thông báo về các dấu hiệu và/hoặc triệu chứng của độc tính GI nghiêm trọng và cách xử trí nếu chúng xảy ra. Lợi ích của việc theo dõi định kỳ bằng các xét nghiệm chưa được chứng minh, cũng như chưa được đánh giá đầy đủ. Chỉ 1/5 bệnh nhân tiến triển bệnh về đường tiêu hóa trên khi điều trị bằng NSAIDs là có triệu chứng. Người ta đã chứng minh rằng loét đường tiêu hóa trên, chảy máu hoặc thủng do NSAIDs gây ra, xuất hiện ở khoảng 1% bệnh nhân được điều trị trong 3-6 tháng và ở khoảng 2-4 % bệnh nhân được điều trị trong một năm. Do đó, khi xu hướng này tiếp diễn, làm tăng khả năng xảy ra biến cố GI nghiêm trọng vào một thời điểm nào đó trong quá trình điều trị. Tuy nhiên, ngay cả liệu pháp điều trị ngắn hạn cũng có thể đem lại rủi ro.

NSAIDs nên được kê đơn hết sức thận trọng đối với người có tiền sử bệnh loét hoặc xuất huyết tiêu hóa. Hầu hết các báo cáo tự phát về các biến cố GI gây tử vong là ở bệnh nhân cao tuổi hoặc suy nhược và do đó cần đặc biệt lưu ý khi điều trị cho các đối tượng này. Để giảm thiểu nguy cơ có thể xảy ra biến cố GI, nên sử dụng liều thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất có thể. Đối với bệnh nhân có nguy cơ cao, nên cân nhắc thay thế NSAIDs bằng các liệu pháp khác.

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng bệnh nhân sử dụng NSAIDs có tiền sử loét và/hoặc chảy máu đường tiêu hóa và tiền sử dùng NSAIDs, có nguy cơ xuất huyết GI cao hơn 10 lần so với bệnh nhân không có các yếu tố nguy cơ này. Ngoài ra, các nghiên cứu dược lý học đã xác định một số liệu pháp đồng thời hoặc các tình trạng bệnh có thể làm tăng nguy cơ chảy máu GI như: sử dụng corticosteroid đường uống, thuốc chống đông máu, thời gian điều trị NSAIDs kéo dài, hút thuốc, nghiện rượu, tuổi cao và tình trạng sức khỏe tổng quát kém.

Phản ứng phản vệ

Cũng như NSAIDs khác, phản ứng phản vệ xảy ra ở bệnh nhân không được biết về nguy cơ này trước khi tiếp xúc với meloxicam. Không dùng meloxicam cho bệnh nhân gặp bộ ba triệu chứng aspirin. Tổ hợp triệu chứng điển hình này xảy ra ở bệnh nhân hen phế quản, viêm mũi kèm theo hoặc không kèm theo polyp mũi, hoặc có biểu hiện co thắt phế quản nặng, có khả năng tử vong sau khi dùng aspirin hoặc NSAIDs khác (xem “Chống chỉ định” và “Thận trọng: Tiền sử bệnh hen phế quản”). Cần hỗ trợ y tế khẩn cấp trong trường hợp xảy ra phản ứng phản vệ.

Bệnh thận tiến triển

Trong trường hợp bệnh thận tiến triển, không khuyến khích điều trị bằng meloxicam. Nếu phải điều trị bằng NSAIDs, nên theo dõi chặt chẽ chức năng thận của bệnh nhân (xem “Thận trọng: Ảnh hưởng trên thận”).

Thai kỳ

Cũng như NSAIDs khác, nên tránh dùng meloxicam trong giai đoạn cuối của thai kỳ vì có thể gây đóng sớm ống động mạch.

Nguy cơ huyết khối tim mạch

NSAIDs, không gồm aspirin, dùng đường toàn thân, có thể làm tăng nguy cơ xuất hiện biến cố huyết khối tim mạch, bao gồm cả nhồi máu cơ tim và đột quỵ, có thể dẫn đến tử vong. Nguy cơ này có thể xuất hiện sớm trong vài tuần đầu dùng thuốc và có thể tăng lên theo thời gian dùng thuốc. Nguy cơ huyết khối tim mạch được ghi nhận chủ yếu ở liều cao.

Bác sĩ cần đánh giá định kỳ nguy cơ và dấu hiệu của các biến cố tim mạch, ngay cả khi bệnh nhân không có triệu chứng tim mạch trước đó. Bệnh nhân cần được cảnh báo về các dấu hiệu và triệu chứng của biến cố tim mạch nghiêm trọng và cần thăm khám bác sĩ ngay khi xuất hiện bất kỳ triệu chứng nào gợi ý tình trạng này.

Để giảm thiểu nguy cơ xuất hiện biến cố bất lợi, cần sử dụng meloxicam với liều hàng ngày thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất có thể.

Các phản ứng nghiêm trọng trên da

Các phản ứng nghiêm trọng trên da, một số có thể gây tử vong, bao gồm viêm tróc lở da, hội chứng Stevens-Johnson, hoại tử thượng bì nhiễm độc, rất hiếm khi được báo cáo có liên quan với việc sử dụng NSAIDs. Bệnh nhân gặp phải nguy cơ cao nhất của những phản ứng này thường ở giai đoạn đầu của quá trình điều trị; trong phần lớn các trường hợp, các phản ứng khởi phát trong tháng đầu tiên khi bắt đầu dùng thuốc. Nên ngừng sử dụng meloxicam ngay khi xuất hiện phát ban trên da, thương tổn niêm mạc hoặc bất cứ dấu hiệu mẫn cảm nào.

Thận trọng:

Ảnh hưởng chung

Meloxicam không thể thay thế cho corticosteroid hay liệu pháp điều trị suy giảm corticosteroid. Việc ngừng sử dụng corticosteroid đột ngột có thể dẫn đến các đợt cấp của bệnh. Bệnh nhân điều trị corticosteroid kéo dài nên giảm liều dần dần nếu quyết định ngừng thuốc. Tác dụng dược lý của meloxicam trong việc giảm viêm và sốt có thể che lấp các dấu hiệu lâm sàng giúp chẩn đoán các biến chứng của những tình trạng đau được cho là không do nhiễm khuẩn.

Ảnh hưởng trên gan

Kết quả tăng cao trong một hoặc nhiều xét nghiệm gan có thể xảy ra ở 15% bệnh nhân dùng NSAIDs, bao gồm cả meloxicam. Những bất thường trong các xét nghiệm có thể tiến triển, không thay đổi, hoặc có thể thoáng qua khi tiếp tục điều trị. Mức tăng đáng chú ý của ALT hoặc AST (khoảng ≥ 3 lần giới hạn trên của mức bình thường) đã được báo cáo ở khoảng 1% bệnh nhân trong các thử nghiệm lâm sàng với NSAIDs. Ngoài ra, một số trường hợp hiếm gặp về các phản ứng gan nghiêm trọng, bao gồm vàng da và viêm gan cấp gây tử vong, hoại tử gan, suy gan và một số trường hợp tử vong liên quan đến việc sử dụng NSAIDs.

Bệnh nhân có các dấu hiệu và/hoặc triệu chứng gợi ý rối loạn chức năng gan, hoặc kết quả xét nghiệm gan bất thường, cần được đánh giá để để xác định khả năng tiến triển bệnh gan nghiêm trọng hơn khi điều trị bằng meloxicam. Nếu các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng cho thấy bệnh gan tiến triển hoặc nếu xuất hiện các biểu hiện toàn thân (ví dụ: tăng bạch cầu ái toan, phát ban,...), nên ngừng sử dụng meloxicam.

Ảnh hưởng trên thận

Thận trọng khi bắt đầu điều trị bằng meloxicam ở bệnh nhân bị mất nước đáng kể. Nên bù nước cho bệnh nhân trước khi bắt đầu điều trị bằng meloxicam. Cần thận trọng với bệnh nhân có bệnh thận từ trước (xem “Cảnh báo: Bệnh thận tiến triển”).

Sử dụng NSAIDs trong thời gian dài đã dẫn đến hoại tử nhú thận và các thay đổi khác tại tủy thận. Độc tính trên thận cũng đã được ghi nhận ở bệnh nhân mà prostaglandin thận có vai trò hỗ trợ trong việc duy trì tưới máu thận. Ở nhóm bệnh nhân này, NSAIDs có thể làm giảm sự hình thành prostaglandin phụ thuộc liều, từ đó giảm lưu lượng máu qua thận, dẫn đến mất bù qua thận. Việc ngừng điều trị bằng NSAIDs thường giúp phục hồi về trạng thái trước khi điều trị.

Bệnh nhân có nguy cơ cao nhất gặp những phản ứng trên bao gồm: bệnh nhân cao tuổi, bệnh nhân mất nước, suy tim sung huyết, xơ gan, hội chứng thận hư và bệnh lý tại thận rõ rệt, hoặc đang điều trị đồng thời với thuốc lợi tiểu, thuốc ức chế men chuyển (ACEI), thuốc ức chế thụ thể angiotensin II (ARB) cũng như bệnh nhân đang trải qua những đại phẫu có thể dẫn đến giảm thể tích máu.

Mức độ tích lũy của các chất chuyển hóa ở bệnh nhân suy thận chưa được nghiên cứu với meloxicam. Vì một số chất chuyển hóa của meloxicam được bài tiết qua thận, cần theo dõi chặt chẽ bệnh nhân có chức năng thận suy giảm đáng kể.

Hiếm gặp hơn, NSAIDs có thể gây viêm thận kẽ, viêm cầu thận, hoại tử nhu mô thận hoặc hội chứng thận hư.

Ảnh hưởng trên huyết học

Thiếu máu đôi khi được ghi nhận ở bệnh nhân dùng NSAIDs, bao gồm cả meloxicam. Điều này có thể là do giữ nước, mất máu GI, hoặc tác động chưa được mô tả đầy đủ trên quá trình tạo hồng cầu. Bệnh nhân đang điều trị dài hạn với NSAIDs, bao gồm meloxicam, nên được kiểm tra huyết sắc tố hoặc hematocrit nếu có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào của bệnh thiếu máu.

Meloxicam ức chế sinh tổng hợp prostaglandin, do vậy có thể cản trở ở một mức độ nào đó chức năng tiểu cầu và đáp ứng của mạch máu đối với tình trạng chảy máu. NSAIDs ức chế kết tập tiểu cầu và được chứng minh là kéo dài thời gian chảy máu ở một số bệnh nhân. Không giống như aspirin, tác dụng của meloxicam đối với chức năng tiểu cầu ít hơn, hoặc thời gian ngắn hơn và có thể hồi phục. Meloxicam thường không ảnh hưởng đến số lượng tiểu cầu, thời gian prothrombin (PT) hoặc thời gian thromboplastin hoạt hóa từng phần (PTT). Bệnh nhân có rối loạn đông máu hoặc đang sử dụng thuốc chống đông cần được theo dõi cẩn thận khi điều trị bằng meloxicam, do nguy cơ biến đổi chức năng tiểu cầu.

Giữ natri, kali và nước

NSAIDs có thể gây giữ muối natri, kali và nước cũng như ngăn cản tác dụng kích thích bài tiết natri trong nước tiểu của thuốc lợi tiểu. Suy tim hoặc tăng huyết áp có thể xuất hiện hoặc nặng thêm ở bệnh nhân mẫn cảm. Bệnh nhân có nguy cơ nên được theo dõi chặt chẽ trên lâm sàng.

Tiền sử bệnh hen phế quản

Bệnh nhân hen phế quản có nguy cơ cao bị cơn hen cấp do quá mẫn với aspirin. Việc sử dụng aspirin có thể gây co thắt phế quản nặng và đe dọa tính mạng (hoặc có thể dẫn đến tử vong) ở nhóm bệnh nhân này. Đã có báo cáo về phản ứng chéo, bao gồm co thắt phế quản, giữa aspirin và NSAIDs khác ở bệnh nhân nhạy cảm với aspirin. Do đó, không dùng meloxicam cho bệnh nhân nhạy cảm với aspirin và cần thận trọng khi sử dụng cho bệnh nhân có tiền sử bệnh hen phế quản.

Chỉ số xét nghiệm

Bệnh nhân điều trị lâu dài với NSAIDs nên được kiểm tra định kỳ công thức máu (CBC) và các chỉ số sinh hóa. Nếu các dấu hiệu lâm sàng và triệu chứng phù hợp với bệnh gan hoặc bệnh thận tiến triển, xuất hiện các phản ứng toàn thân (ví dụ: tăng bạch cầu ái toan, phát ban,...) hoặc các xét nghiệm gan bất thường kéo dài hay trầm trọng hơn, nên ngừng sử dụng meloxicam.

Trẻ em

Chưa xác định được tính an toàn và hiệu quả của meloxicam cho trẻ em dưới 18 tuổi.

Người cao tuổi

Như NSAIDs khác, cần thận trọng khi dùng meloxicam điều trị cho người cao tuổi (> 65 tuổi).

Thông tin cho bệnh nhân

Meloxicam, tương tự các thuốc khác cùng nhóm, có thể gây khó chịu và hiếm khi gây ra các tác dụng không mong muốn nghiêm trọng hơn, như xuất huyết tiêu hóa có thể dẫn đến nhập viện và thậm chí tử vong. Mặc dù loét và chảy máu đường tiêu hóa nghiêm trọng có thể xảy ra mà không có triệu chứng cảnh báo, bệnh nhân nên cảnh giác với các biểu hiện gợi ý loét và chảy máu, đồng thời nên hỏi ý kiến bác sĩ khi nhận thấy bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nghi ngờ nào. Bệnh nhân nên được nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi này (xem “Cảnh báo: Ảnh hưởng trên đường tiêu hóa (GI)”).

Báo cho bác sĩ các dấu hiệu hoặc triệu chứng của loét hoặc chảy máu đường tiêu hóa, phát ban da, tăng cân hoặc phù nề. Bệnh nhân cần được thông báo về các dấu hiệu cảnh báo và triệu chứng của nhiễm độc gan (ví dụ: buồn nôn, mệt mỏi, hôn mê, ngứa, vàng da, đau hạ sườn phải và các triệu chứng “giống cúm”). Nếu những triệu chứng này xảy ra, cần ngừng điều trị và tìm kiếm liệu pháp y tế ngay lập tức.

Bệnh nhân cần tìm kiếm trợ giúp y tế khẩn cấp trong trường hợp phản ứng phản vệ (xem “Cảnh báo: Phản ứng phản vệ”).

Trong giai đoạn cuối của thai kỳ, cũng như NSAIDs khác, không dùng meloxicam vì có thể gây đóng sớm ống động mạch.

Cảnh báo tá dược:

ROBMELOX chứa tá dược:

- Lactose: Bệnh nhân bị rối loạn di truyền hiếm gặp như không dung nạp galactose, thiếu hụt lactase hoàn toàn hoặc kém hấp thu glucose - galactose không nên dùng thuốc này.

7. Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú

Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai

Chống chỉ định meloxicam cho phụ nữ có thai.

Ức chế tổng hợp prostaglandin có thể ảnh hưởng đến thai phụ và/hoặc sự phát triển của phôi thai. Dữ liệu từ các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy sự tăng nguy cơ sẩy thai, dị tật tim và thoát vị thành bụng bẩm sinh (bệnh hở thành bụng bẩm sinh) sau khi sử dụng thuốc ức chế tổng hợp prostaglandin ở giai đoạn sớm của thai kỳ. Nguy cơ gây dị tật tim tăng từ dưới 1% lên khoảng 1,5%. Người ta tin rằng nguy cơ này tăng khi tăng liều và khoảng thời gian điều trị. Trong các nghiên cứu tiền lâm sàng, điều trị bằng chất ức chế tổng hợp prostaglandin cho thấy tăng sẩy thai trước và sau khi làm tổ, tăng tỷ lệ chết thai, Thêm vào đó, tăng tỷ lệ các dị tật khác bao gồm tim mạch được báo cáo trong các nghiên cứu tiền lâm sàng có sử dụng chất ức chế prostaglandin trong thời gian tạo thành các cơ quan.

Trong 3 tháng cuối của thai kỳ, tất cả các chất ức chế tổng hợp prostaglandin có thể tác động trên thai nhi:

- Độc tính trên tim phổi (đóng sớm ống động mạch và tăng huyết áp tĩnh mạch phổi).

- Rối loạn chức năng thận, có thể đẫn đến suy thận, có sự hiện diện thiểu ối; ảnh hưởng trên mẹ và trên thai nhi giai đoạn cuối của thai kỳ:

- Tăng thời gian chảy máu, tác dụng chống tập kết tiểu cầu có thể xảy ra thậm chí ở liều rất thấp.

- Ức chế co bóp tử cung làm chậm thời gian chuyển dạ.

Nên cân nhắc ngưng meloxicam ở những phụ nữ khó mang thai, hoặc đang được chẩn đoán đánh giá vô sinh.

Sử dụng thuốc cho phụ nữ cho con bú

NSAIDs được tiết vào sữa mẹ, không có kinh nghiệm cụ thể nào xảy ra với meloxicam. Do đó, chống chỉ định sử dụng trên phụ nữ đang cho con bú.

8. Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe và vận hành máy móc

Chưa có nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe hoặc vận hành máy móc. Tuy nhiên, nên cảnh báo bệnh nhân là có thể gặp các tác dụng không mong muốn như rối loạn thị giác kể cả nhìn mờ, xây xẩm, buồn ngủ, chóng mặt và các rối loạn thần kinh trung ương khác.

Do vậy, nên khuyên bệnh nhân thận trọng khi lái xe hoặc vận hành máy móc.

Nếu bệnh nhân gặp các tác dụng không mong muốn, nên tránh những hoạt động có khả năng gây nguy hiểm như lái xe hoặc vận hành máy móc.

9. Tương tác, tương kỵ của thuốc

Tương tác của thuốc với các thuốc khác và các loại tương tác khác:

- Thuốc ức chế tổng hợp prostaglandin (PSI) khác kể cá glucocorticoid và salicylat (acetylsalicylic acid): Không khuyến cáo sử dụng đồng thời với các thuốc PSI do có thể làm tăng nguy cơ loét và xuất huyết tiêu hóa thông qua tác dụng hiệp đồng. Không khuyên dùng đồng thời meloxicam với NSAIDs khác. Sử dụng đồng thời với aspirin (1000 mg 3 lần/ngày) trên người tình nguyện khoẻ mạnh có xu hướng làm tăng AUC (10%) và Cmax (24%) của meloxicam. Chưa biết được ý nghĩa lâm sàng của tương tác này.

- Thuốc chống đông máu đường uống, heparin dùng đường toàn thân, thuốc tiêu huyết khối: Tăng nguy cơ chảy máu. Cần theo dõi chặt chẽ tác dụng chống đông máu nếu phải phối hợp thuốc.

- Thuốc chống kết tập tiểu cầu và ức chế thu hồi serotonin có chọn lọc (SSRI): Tăng nguy cơ chảy máu thông qua ức chế chức năng tiểu cầu.

- Lithium: NSAIDs đã được ghi nhận làm tăng lithium huyết tương (do làm giảm bài tiết lithium qua thận), có thể dẫn đến mức gây độc. Không khuyến cáo sử dụng đồng thời lithium và NSAIDs. Nếu cần thiết phải kết hợp, cần theo dõi nồng độ lithium huyết tương cẩn thận khi bắt đầu điều trị, điều chỉnh và khi dừng meloxicam.

- Methotrexat: NSAIDs có thể làm giảm bài tiết methotrexat ở ống thận dẫn đến làm tăng nồng độ methotrexat trong huyết tương. Do vậy, với bệnh nhân dùng liều cao methotrexat (> 15 mg/tuần), không khuyến cáo dùng đồng thời với NSAIDs. Nguy cơ tương tác giữa NSAIDs và methotrexat cũng nên được xem xét trên bệnh nhân dùng liều thấp methotrexat, đặc biệt là bệnh nhân suy giảm chức năng thận. Trong trường hợp phải kết hợp điều trị, cần theo dõi công thức máu và chức năng thận. Cần thận trọng trong trường hợp dùng đồng thời NSAIDs và methotrexat trong vòng 3 ngày, khi mà nồng độ methotrexat huyết tương có thể tăng và làm tăng độc tính. Mặc dù dược động học của methotrexat (15 mg/tuần) không bị ảnh hưởng khi sử dụng đồng thời với meloxicam, cần xét đến độc tính trên hệ tạo máu của methotrexat có thể bị khuếch đại do điều trị cùng NSAIDs.

- Tránh thai: Sự giảm hiệu lực của các dụng cụ tránh thai đặt trong tử cung do NSAIDs đã được ghi nhận nhưng cần được khẳng định thêm.

- Thuốc lợi tiểu: Dùng chung thuốc lợi tiểu với NSAIDs có nguy cơ cao dẫn đến suy thận cấp ở bệnh nhân bị mất nước. Bệnh nhân đang dùng meloxicam với thuốc lợi tiểu cần được bổ sung đầy đủ nước và theo dõi chức năng thận trước khi bắt đầu điều trị.

- Thuốc điều trị tăng huyết áp (thuốc chẹn β, ACEI, thuốc giãn mạch, lợi tiểu): Giảm tác dụng của thuốc hạ huyết áp do ức chế prostaglandin gây giãn mạch đã được ghi nhận trong khi điều trị với NSAIDs.

- Thuốc ức chế thụ thể angiotensin II, ức chế men chuyển: Có tác dụng hiệp đồng với NSAIDs làm giảm mức lọc cầu thận. Trên bệnh nhân suy giảm chức năng thận, có thể dẫn đến suy thận cấp.

- Cholestyramin gắn với meloxicam ở đường tiêu hoá dẫn đến thải trừ meloxicam nhanh hơn.

- Cyclosporin: NSAIDs có thể làm tăng độc tính trên thận của cyclosporin qua tác dụng trung gian của prostaglandin. Cần kiểm tra đánh giá chức năng thận trong điều trị kết hợp.

- Pemetrexed: Khi sử dụng đồng thời meloxicam với pemetrexed ở bệnh nhân có độ thanh thải creatinin từ 45-79 mL/phút, nên ngừng dùng meloxixam 5 ngày trước, trong, và 2 ngày sau khi sử dụng pemetrexed. Nếu việc sử dụng đồng thời là cần thiết, cần theo dõi chặt chẽ bệnh nhân, đặc biệt là các tác dụng không mong muốn trên đường tiêu hóa và ức chế tủy. Không khuyến cáo sử dụng đồng thời meloxicam và pemetrexed ở bệnh nhân có độ thanh thải creatinin dưới 45 mL/phút.

Meloxicam được loại trừ hầu như hoàn toàn khi chuyển hóa qua gan, trong đó khoảng 2/3 qua trung gian của các enzym cytocrom (CYP) P450 (thông qua con đường chuyển hoá chính CYP 2C9 và đường chuyển hoá phụ CYP 3A4) và 1/3 qua những đường chuyển hoá khác như oxy hoá peroxidase. Cần chú ý khả năng xuất hiện tương tác dược động học khi sử dụng meloxicam và thuốc được biết là bị ức chế hay cảm ứng bởi CYP 2C9 và/hoặc CYP 3A4.

Có thể dự tính các tương tác qua CYP 2C9 khi dùng kết hợp với các thuốc như thuốc điều trị đái tháo đường dạng uống (sulfonylure, nateglinid), mà có thể dẫn đến tăng nồng độ của các thuốc này và meloxicam trong huyết tương. Nên giám sát chặt chẽ việc hạ đường huyết ở bệnh nhân dùng đồng thời meloxicam và sulphonylure hoặc nateglinid.

Không có các tương tác được động học thuốc-thuốc rõ rệt được phát hiện với việc sử dụng đồng thời thuốc kháng acid, cimetidin, digoxin và furosemid.

Tương kỵ của thuốc

Do chưa có thông tin về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.

10. Tác dụng không mong muốn của thuốc (ADR)

Những tác dụng không mong muốn được ghi nhận sau đây có thể liên quan đến việc sử dụng meloxicam đã được biết đến qua kết quả những báo cáo liên quan với việc sử dụng dạng uống sau khi đã được đưa ra thị trường được theo dõi bởi một số tham chiếu.

Các tác dụng không mong muốn được phân loại với các tần suất: Rất thường gặp (≥ 1/10); thường gặp (≥ 1/100 đến < 1/10); ít gặp (≥ 1/1.000 đến < 1/100); hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000); rất hiếm gặp (< 1/10.000); chưa rõ (không thể ước tính từ dữ liệu có sẵn).

Hệ cơ quan

Tác dụng không mong muốn

Tần suất

Rối loạn máu và bạch huyết

 

Thiếu máu

Ít gặp

Công thức máu bất thường (bao gồm số lượng các loại bạch cầu), giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu

Hiếm gặp

Rối loạn miễn dịch

Phản ứng phản vệ, phản ứng dạng phản vệ

Chưa rõ 1

Phản ứng tăng mẫn cảm tức thì khác

Ít gặp

Rối loạn tâm thần

Tình trạng lú lẫn, mất định hướng

Chưa rõ 1

Thay đổi khí sắc

Hiếm gặp

Rối loạn thần kinh

Nhức đầu

Thường gặp

Choáng váng, buồn ngủ

Ít gặp

Rối loạn mắt

Rối loạn thị giác bao gồm nhìn mờ, viêm kết mạc

Hiếm gặp

Rối loạn tai và tiền đình

Chóng mặt

Ít gặp

Ù tai

Hiếm gặp

Rối loạn về tim

Tim đập nhanh

Hiếm gặp

Rối loạn mạch máu

Tăng huyết áp, đỏ bừng

Ít gặp

Rối loạn ngực, trung thất và hô hấp

Hen phế quản

Hiếm gặp

Rồi loạn tiêu hóa

Đau bụng, khó tiêu, tiêu chảy, buồn nôn, nôn

Thường gặp

Xuất huyết tiêu hóa vi thể hoặc đại thể, viêm dạ dày, viêm miệng, táo bón, đầy hơi, ợ hơi

Ít gặp

Loét dạ dày-tá tràng, viêm đại tràng, viêm thực quản

Hiếm gặp

Thủng đường tiêu hóa

Rất hiểm gặp

Rối loạn gan mật

Bất thường xét nghiệm chức năng gan (ví dụ: tăng transaminase hoặc bilirubin)

Ít gặp

Viêm gan

Rất hiểm gặp

Rối loạn da và mô dưới da

Phù mạch nổi mẫn, ngứa

Ít gặp

Mày đay, hoại tử thượng bì nhiễm độc, hội chứng Stevens-Johnson

Hiếm gặp

Viêm da bóng nước, hồng ban đa dạng

Rất hiểm gặp

Phản ứng nhạy cảm với ánh sáng

Chưa rõ 1

Rối loạn thận và tiết niệu

Bất thường xét nghiệm chức năng thận (tăng creatinin huyết thanh và/hoặc urea huyết thanh; rối loạn tiểu tiện, bao gồm cả bí tiểu cấp 3

Ít gặp

Suy thận cấp

Rất hiểm gặp

Rối loạn chung và biểu hiện tại nơi dùng thuốc

Phù nề

Ít gặp

Rối loạn nội tiết

Trì hoãn rụng trứng

Ít gặp

Rối loạn hệ sinh sản và tuyến vú

Vô sinh nữ

Chưa rõ 2,3

1 Chưa rõ tần suất, không quan sát thấy trong thử nghiệm lâm sàng trên 15.197 bệnh nhân.

2 Chưa rõ tần suất, không quan sát thấy trong thử nghiệm lâm sàng trên 286 bệnh nhân nữ tuổi ≤ 50. Nhóm bệnh nhân nữ này là một nhóm nhỏ trong số 15.197 bệnh nhân từ thử nghiệm lâm sàng và được đặc trưng bởi thời gian quan sát trong ít nhất 90 ngày.

3 Không quan sát thấy trên nhóm quần thể bệnh nhân được chọn trong các thử nghiệm lâm sàng (286 bệnh nhân); tần suất được ước tính theo hướng dẫn SmPC của EU tháng 09/2009 về các tác dụng không mong muốn từ báo cáo tự phát, tức là giới hạn trên khoảng tin cậy 95% của ước lượng điểm 3/N với N là tổng số cỡ mẫu sử dụng để tính toán (N=286). Do đó, tần suất của “vô sinh nữ” được ước tính là thường gặp (3/286).

Nguy cơ huyết khối tim mạch: xem Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc.

Báo cáo các phản ứng có hại

Thông báo ngay cho bác sỹ hoặc dược sĩ khi gặp các tác dụng không mong muốn như trên khi sử dụng thuốc hoặc báo cáo các phản ứng có hại của thuốc về Trung tâm Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc (ADR) Quốc Gia. Địa chỉ: 13 - 15 Lê Thánh Tông - Hoàn Kiếm - Hà Nội. Điện thoại: 0243 9335 618; Fax: 0243 9335642; Email: di.pvcenter@gmail.com.

11. Quá liều và cách xử trí

Có ít kinh nghiệm về quá liều meloxicam. Bốn trường hợp đã uống gấp 6-11 lần liều tối đa khuyến cáo và tất cả đã phục hồi. Cholestyramin được biết là có tác dụng đẩy nhanh quá trình thanh thải meloxicam. Các triệu chứng sau khi dùng quá liều NSAIDs cấp tính thường giới hạn ở trạng thái hôn mê, buồn ngủ, buồn nôn, nôn, đau thượng vị và thường có thể hồi phục khi được chăm sóc hỗ trợ. Xuất huyết tiêu hóa có thể xảy ra. Ngộ độc nặng có thể dẫn đến tăng huyết áp, suy thận cấp, rối loạn chức năng gan, suy hô hấp, hôn mê, co giật, trụy tim mạch và ngừng tim. Các phản ứng phản vệ cũng đã được báo cáo sau khi dùng quá liều NSAIDs.

Bệnh nhân nên được chăm sóc hỗ trợ và điều trị triệu chứng sau khi dùng quá liều NSAIDs. Trong trường hợp quá liều cấp tính, nên rửa dạ dày sau đó dùng than hoạt tính. Thực hiện rửa dạ dày hơn một giờ sau khi dùng quá liều có rất ít lợi ích trong điều trị quá liều. Dùng than hoạt tính được khuyến cáo cho bệnh nhân có biểu hiện sau khi dùng quá liều 1-2 giờ. Đối với bệnh nhân quá liều đáng kể hoặc có triệu chứng nghiêm trọng, có thể dùng than hoạt tính nhiều lần. Meloxicam được loại bỏ nhanh chóng bằng cách uống 4 g cholestyramin ba lần một ngày đã được chứng minh trong một thử nghiệm lâm sàng. Sử dụng cholestyramin có thể hữu ích sau khi dùng quá liều meloxicam. Bài niệu cưỡng bức, kiềm hóa nước tiểu, thẩm tách máu, hoặc truyền máu có thể không hữu ích do meloxicam liên kết với protein huyết tương cao.

12. Đặc tính dược lực học

Nhóm dược lý: Thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs), dẫn xuất oxicam, nhóm acid enolic.

Mã ATC: M01AC06.

Cơ chế tác dụng:

Meloxicam thuộc nhóm NSAIDs loại acid enolic, có tác dụng chống viêm, giảm đau và hạ sốt trên động vật. Meloxicam có hoạt tính chống viêm trên tất cả các mô hình viêm chuẩn. Cơ chế tác dụng chung cho những tác dụng trên có thể do meloxicam ức chế sinh tổng hợp các prostaglandin được biết là những chất trung gian gây viêm.

So sánh liều gây loét và liều có tác dụng chống viêm trên mô hình viêm khớp ở chuột cống đã khẳng định lợi ích điều trị của thuốc vượt trội NSAIDs chuẩn trên động vật. In vivo, meloxicam đã ức chế sinh tổng hợp prostaglandin ở vị trí viêm mạnh hơn tại niêm mạc dạ dày hay ở thận.

Người ta cho rằng những khác biệt nêu trên có liên quan đến sự ức chế chọn lọc trên COX-2 so với COX-1 và tin rằng ức chế COX-2 đem lại những hiệu quả trị liệu của NSAIDs, trong khi ức chế chủ yếu COX-1 lại có thể chịu trách nhiệm cho những phản ứng phụ trên niêm mạc dạ dày hay thận.

Tính ức chế chọn lọc trên COX-2 của meloxicam đã được khẳng định trong một số các hệ thống thử nghiệm in vitro lẫn ex vivo. Trong thử nghiệm máu toàn phần người, meloxicam cho thấy thuốc ức chế chọn lọc COX-2 trên in vitro. Trong thử nghiệm ex vivo, meloxicam (7,5 và 15 mg) cho thấy ức chế nhiều hơn trên COX-2, như đã được chứng tỏ bằng việc ức chế nhiều hơn trên sự sản xuất PGEG2 được kích thích bởi lipopolysaccarid (COX-2) so với sự sản xuất thromboxan trong cục máu đông (COX-1). Những tác động này phụ thuộc liều dùng. Meloxicam không có tác động trên sự kết tập tiểu cầu hoặc thời gian máu chảy ở những liều khuyến cáo dùng trong thử nghiệm ex vivo, trong khi indomethacin, diclofenac, ibuprofen và naproxen ức chế đáng kể sự kết tập tiểu cầu và kéo dài sự chảy máu.

Các thứ nghiệm lâm sàng

Trong các thử nghiệm lâm sàng, nhìn chung meloxicam 7,5 và 15 mg ít gây ra các phản ứng phụ trên đường tiêu hóa hơn so với NSAIDs đối chiếu do tần suất thấp hơn đáng kể các phản ứng phụ như khó tiêu, nôn mửa và đau bụng. Tần suất thủng, loét, xuất huyết đường tiêu hóa trên được báo cáo có liên quan đến meloxicam thấp và phụ thuộc liều dùng.

Không có nghiên cứu riêng lẻ đủ lớn để phát hiện những khác biệt về mặt thống kê tần suất thủng, tắc nghẽn, xuất huyết đường tiêu hóa có ý nghĩa lâm sàng giữa meloxicam và NSAIDs khác. Một phân tích gộp đã được tiến hành trên bệnh nhân viêm xương khớp, viêm khớp dạng thấp và viêm cột sống dính khớp được điều trị bằng meloxicam trong 35 thử nghiệm lâm sàng. Thời gian dùng meloxicam trong thử nghiệm này thay đổi từ 3 tuần đến 1 năm (đa số các bệnh nhân được thu nhận tham gia các nghiên cứu kéo dài 1 tháng). Hầu hết những bệnh nhân được phép tham gia các thử nghiệm trên đều có tiền sử thủng, loét hay xuất huyết đường tiêu hóa.

Tần suất thủng, tắc nghẽn hay xuất huyết (POB) được đánh giá hồi cứu sau việc đánh giá 'mù' và độc lập các trường hợp; kết quả được trình bày ở bảng dưới đây:

Nguy cơ tích lũy thủng, tắc nghẽn hay xuất huyết của meloxicam 7,5 mg và 15 mg từ các thử nghiệm lâm sàng của BI so với diclofenac và piroxicam

(ước tính theo phương pháp Kaplan-Meier)

ĐIÊU TRỊ

(Liều mỗi

ngày)

Khoảng thời gian

(ngày)

Số bệnh nhân tại điểm giữa khoảng thời gian

Thủng, tắc nghẽn, xuất huyết trong khoảng thời gian

Nguy cơ (%)

Khoảng tin cậy 95%

Meloxicam

 

 

 

 

 

7,5 mg

1 - <30

9636

2

0,02

0,00 - 0,05

30 - <91

551

1

0,05

0,00 - 0,13

15 mg

1 - <30

2785

3

0,12

0,00 - 0,25

30 - <91

1683

5

0,40

0,12 - 0,69

91 - <182

1090

1

0,50

0,16 - 0,83

182 - <365

642

0

0,50

 

Diclofenac

 

 

 

 

 

100 mg

1 - <30

5110

7

0,14

0,04 - 0,24

30 - <91

493

2

0,55

0,00 - 1,13

Piroxicam

 

 

 

 

 

20 mg

1 - <30

5071

10

0,20

0,07 - 0,32

30 - <91

532

6

1,11

0,35 - 1,86

Trong một nghiên cứu lâm sảng mù đôi, ngẫu nhiên ở trẻ bị viêm khớp dạng thấp thiếu niên (JRA) 2-16 tuổi, meloxieam hỗn dịch dạng uống dùng một lần mỗi ngày ở liều 0,125 mg/kg cân nặng (N=73) và 0,25 mg/kg cân nặng (N=74) được so sánh với naproxen 10 mg/kg cân nặng/ngày (BID) (N=78). Tỷ lệ đáp ứng sau một năm điều trị là 77%, 76% và 74% và như vậy tương đương nhau giữa ba nhóm điều trị. Tỷ lệ tác dụng không mong muốn là 74%, 80% và 85% tương ứng ở nhóm dùng meloxicam 0,125 mg/kg/ngày, 0,25 mg/kg/ngày và naproxen 10 mg/kg/ngày.

13. Đặc tính dược động học

Hấp thu

Sinh khả dụng tuyệt đối của viên nang meloxicam là 89% sau khi uống một liều 30 mg so với 30 mg tiêm bolus IV. Viên nang meloxicam đã được chứng minh là tương đương sinh học với viên nén meloxicam.

Sau liều tiêm tĩnh mạch duy nhất, dược động học tỷ lệ với liều dùng trong khoảng 5-60 mg.

Sau khi uống nhiều liều, dược động học của viên nang meloxicam tỷ lệ với liều trong khoảng 7,5-15 mg. Sự hấp thu meloxicam kéo dài, Cmax trung bình đạt được trong vòng 4-5 giờ sau khi uống một viên nén meloxicam 7,5 mg trong điều kiện nhịn ăn. Tốc độ hoặc mức độ hấp thu không bị ảnh hưởng khi dùng đa liều, cho thấy dược động học có sự tuyến tính. Sau nhiều liều dùng, điều kiện trạng thái ổn định đã đạt được vào ngày thứ 5. Đỉnh nồng độ thứ hai của meloxicam đạt được khoảng 12-14 giờ sau khi dùng thuốc chứng tỏ có sự tái tuần hoàn meloxicam trong đường tiêu hóa.


 

Các thông số dược động học của liều duy nhất và ở trạng thái ổn định khi dùng đường uống 7,5 và 15 mg meloxicam (Trung bình và % CV)1

 

 

Các thông số dược động học

(%CV)

Trạng thái ổn định

Liều duy nhất

Nam giới trưởng thành khỏe mạnh

(Trạng thái no)2

Nam giới cao tuổi

(Trạng thái no)2

Nữ giới cao tuổi

(Trạng thái no)2

Suy thận

(Trạng thái đói)

Suy gan

(Trạng thái đói)

Viên nén3

7,5 mg

Viên nang

15 mg

Viên nang 15 mg

Viên nang

15 mg

Viên nang

15 mg

N

18

5

8

12

12

Cmax [µg/mL]

1,05 (20)

2,3 (59)

3,2 (24)

0,59 (36)

0,84 (29)

tmax [giờ]

4,9 (8)

5 (12)

6 (27)

4 (65)

10 (87)

t1/2 [giờ]

20,1 (29)

21 (34)

24 (34)

18 (46)

16 (29)

CL/f [mL/phút]

8,8 (29)

9,9 (76)

5,1 (22)

19 (43)

11 (44)

Vz/f4 [L]

14,7 (32)

15 (42)

10 (30)

26 (44)

14 (29)

1 Các giá trị tham số trong bảng là từ các nghiên cứu khác nhau

2 Trong điều kiện không nhiều chất béo

3 Viên nén meloxicam

4 Vz/f = Liều lượng/(AUC).Kcl

Thực phẩm và thuốc kháng acid

Uống thuốc sau bữa sáng nhiều chất béo (75 g chất béo) không ảnh hưởng đến mức độ hấp thu của viên nang meloxicam, nhưng dẫn đến giá trị Cmax cao hơn 22%. Cmax trung bình đạt được trong khoảng 5-6 giờ. Không phát hiện tương tác dược động học khi dùng đồng thời meloxicam với thuốc kháng acid. Viên nén meloxicam 7,5 mg có thể được sử dụng mà không cần chú ý đến thời gian của bữa ăn và thuốc kháng acid.

Phân bố

Thể tích phân bố trung bình (Vss) của meloxicam là khoảng 10 L. Khoảng 99,4% meloxicam liên kết với protein huyết tương người (chủ yếu là albumin) trong khoảng liều điều trị. Tỷ lệ meloxicam gắn kết với protein huyết tương không phụ thuộc vào nồng độ thuốc trong khoảng nồng độ lâm sàng, nhưng giảm xuống ~ 99% ở bệnh nhân bệnh thận. Có ít hơn 10% meloxicam thâm nhập vào tế bào hồng cầu người sau khi uống thuốc. Khi dùng liều thuốc được gắn phóng xạ, hơn 90% hoạt độ phóng xạ được phát hiện trong huyết tương là meloxicam dạng không đổi.

Sau một liều uống duy nhất, nồng độ meloxicam trong dịch khớp, nằm trong khoảng từ 40% đến 50% nồng độ trong huyết tương. Phần meloxicam tự do trong dịch khớp cao hơn 2,5 lần so với trong huyết tương, do hàm lượng albumin trong dịch khớp thấp hơn so với huyết tương. Ý nghĩa của sự thâm nhập của meloxicam vào dịch khớp vẫn chưa được biết.

Chuyển hóa

Meloxicam được chuyển hóa gần như hoàn toàn thành bốn chất chuyển hóa không hoạt tính. 5'-carboxy meloxicam là chất chuyển hóa chính (60% liều dùng), được tạo ra do sự oxy hóa chất chuyển hóa 5'-hydroxymethyl meloxicam (9% liều dùng) qua trung gian hệ enzym P450.

Các nghiên cứu in vitro chỉ ra rằng CYP 2C9 đóng vai trò quan trọng trong con đường chuyển hóa này với sự đóng góp nhỏ của isozym CYP 3A4. Hoạt tính của peroxidase ở bệnh nhân có thể dẫn đến sự hình thành của hai chất chuyển hóa khác, lần lượt chiếm 16% và 4% liều dùng.

Thải trừ

Bài tiết meloxicam chủ yếu ở dạng chất chuyển hóa và xảy ra ở mức độ ngang nhau trong nước tiểu và phân. Chỉ một lượng nhỏ meloxicam dạng không đổi được bài tiết qua nước tiểu (0,2%) và phân (1,6%). Mức độ bài tiết qua nước tiểu đã được xác nhận sau khi dùng nhiều liều 7,5 mg meloxicam: 0,5%, 6% và 13% của liều dùng, lần lượt tương ứng với meloxicam, chất chuyển hóa 5'-hydroxymethyl và 5'-carboxy. Có sự bài tiết đáng kể qua mật và/hoặc đường ruột của thuốc. Điều này đã được chứng minh khi uống cholestyramin sau một liều meloxicam IV làm giảm AUC của meloxicam tới 50%. Thời gian bán thải trung bình (t1/2) từ 15-20 giờ. Thời gian bán thải không đổi ở các mức liều cho thấy chuyển hóa tuyến tính trong khoảng liều điều trị. Độ thanh thải trong huyết tương từ 7-9 mL/phút.

Tính tuyến tính

Meloxicam biểu thị được động học tuyến tính trong khoảng liều điều trị 7,5-15 mg đường uống cũng như đường tiêm bắp.

Nhóm bệnh nhân đặc biệt

Trẻ em

Trong một nghiên cứu trên 36 bệnh nhi, phép đo được động học đã được tiến hành trên 18 trẻ với liều 0,25 mg/kg cân nặng dùng dưới dạng huyền dịch uống. Cmax (-34%) cũng như AUC0-∞ (-28%) có xu hướng thấp hơn ở nhóm trẻ có tuổi ít hơn (từ 2-6 tuổi, N=7) so với nhóm tuổi lớn hơn (7-14 tuổi, N=11) trong khi độ thanh thải trung bình của nhóm trẻ ít tuổi lại cao hơn. Một so sánh trong lịch sử trên người lớn đã cho thấy nồng độ trong huyết tương ít nhất cũng tương tự giữa trẻ lớn và người lớn. Thời gian bán thải (13 giờ) cho cả hai nhóm tương tự nhau và có xu hướng ngắn hơn so với người lớn (15-20 giờ).

Người cao tuổi

Nam giới cao tuổi (≥ 65 tuổi) có nồng độ meloxicam trong huyết tương và dược động học ở trạng thái ổn định tương tự như nam giới trẻ. Nữ giới cao tuổi (≥ 65 tuổi) có AUCss cao hơn 47% và Cmaxss cao hơn 32% so với phụ nữ trẻ hơn (≤ 55 tuổi) sau khi bình thường hóa trọng lượng cơ thể. Mặc dù tổng nồng độ thuốc trong huyết tương tăng ở phụ nữ cao tuổi, dữ liệu về các tác dụng bất lợi có thể so sánh được giữa người cao tuổi ở cả hai giới tính. Meloxicam dạng tự do được tìm thấy với lượng ít hơn trong huyết tương ở bệnh nhân nữ cao tuổi so với bệnh nhân nam cao tuổi.

Giới tính

Phụ nữ trẻ tuổi có nồng độ trong huyết tương thấp hơn một chút so với đàn ông trẻ tuổi. Sau khi dùng một liều 7,5 mg meloxicam, thời gian bán thải trung bình của nhóm nữ là 19,5 giờ so với 23,4 giờ của nhóm nam. Ở trạng thái ổn định, dữ liệu tương tự (17,9 giờ của nhóm nữ so với 21,4 giờ của nhóm nam). Sự khác biệt về dược động học do giới tính ít quan trọng về mặt lâm sàng. Có sự tuyến tính về dược động học và không có sự khác biệt đáng kể về Cmax hoặc Tmax giữa hai giới tính.

Suy gan

Sau một liều meloxicam 15 mg duy nhất, không có sự khác biệt rõ rệt về nồng độ trong huyết tương ở những đối tượng bị suy gan nhẹ (Child-Pugh nhóm I) và trung bình (Child-Pugh nhóm II) so với những người tình nguyện khỏe mạnh. Sự gắn kết với protein huyết tương của meloxicam không bị ảnh hưởng bởi suy gan. Không cần điều chỉnh liều trong suy gan nhẹ đến trung bình. Bệnh nhân suy gan nặng (Child-Pugh nhóm III) chưa được nghiên cứu đầy đủ.

Suy thận

Dược động học của meloxicam đã được nghiên cứu ở những đối tượng có mức độ suy thận khác nhau. Tổng nồng độ thuốc trong huyết tương giảm theo mức độ suy thận trong khi giá trị AUC tự do tương tự nhau. Tổng độ thanh thải của meloxicam tăng lên có thể do sự gia tăng phần tự do dẫn đến tăng độ thanh thải. Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận nhẹ đến trung bình (CrCl > 15 mL/phút). Bệnh nhân suy thận nặng chưa được nghiên cứu đầy đủ. Không khuyến cáo sử dụng meloxicam ở những đối tượng bị suy thận nặng (xem ‘Cảnh báo: Bệnh thận tiến triển’).

Thẩm phân máu

Sau một liều meloxicam duy nhất, nồng độ Cmax tự do trong huyết tương ở bệnh nhân suy thận đang thẩm phân máu mạn tính cao hơn (phần tự do 1%) so với người tình nguyện khỏe mạnh (0,3% phần tự do). Thẩm phân máu không làm giảm tổng nồng độ thuốc trong huyết tương, do đó không cần thiết phải bổ sung liều sau khi thẩm phân máu. Meloxicam không thẩm tách được.

14. Khả năng gây ung thư, đột biến, suy giảm khả năng sinh sản

Không nhận thấy tác dụng gây ung thư của meloxicam khi cho chuột cống uống với liều lên đến 0,8 mg/kg/ngày (gấp khoảng 0,4 lần so với liều dùng 15 mg/ngày cho người lớn 50 kg, dựa trên sự chuyển đổi diện tích bề mặt cơ thể) trong 104 tuần hoặc khi cho chuột nhắt uống với liều lên đến 8,0 mg/kg/ngày (gấp khoảng 2,2 lần liều dùng cho người, như đã nói ở trên) trong 99 tuần.

Meloxicam không gây đột biến trong xét nghiệm Ames, xét nghiệm biến dị quang sai nhiễm sắc thể trên tế bào lympho người và xét nghiệm vi nhân in vivo trong tủy xương chuột nhắt.

Meloxicam không làm giảm khả năng sinh sản của chuột cống đực và cái ở liều uống lên đến tương ứng 9 và 5 mg/kg/ngày (4,9 lần và 2,5 lần liều dùng cho người, như đã nêu ở trên). Tuy nhiên, sự gia tăng tỷ lệ chết phôi ở liều uống ≥ 1 mg/kg/ngày (gấp 0,5 lần liều dùng cho người, như đã nêu ở trên) đã được quan sát thấy ở chuột mẹ khi được dùng meloxicam 2 tuần trước khi giao phối và trong suốt quá trình phát triển phôi sớm.

15. Dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng

Việc sử dụng meloxicam để điều trị các dấu hiệu và triệu chứng của viêm khớp gối và háng đã được đánh giá trong một thử nghiệm mù đôi có đối chứng ở Hoa Kỳ với 464 bệnh nhân được điều trị bằng meloxicam trong 12 tuần. Meloxicam (3,75 mg; 7,5 mg và 15 mg mỗi ngày) được so sánh với giả dược. Bốn tiêu chí chính là đánh giá toàn diện điều tra viên, đánh giá toàn diện bệnh nhân, đánh giá mức độ đau của bệnh nhân và tổng điểm WOMAC (dựa vào tình trạng đau khớp, tình trạng cứng khớp và mức độ khó khăn khi cử động khớp). Bệnh nhân sử dụng meloxicam 7,5 mg mỗi ngày và meloxicam 15 mg mỗi ngày cho thấy cải thiện đáng kể từng tiêu chí này so với giả dược.

Việc sử dụng meloxicam để kiểm soát các dấu hiệu và triệu chứng của viêm xương khớp đã được đánh giá trong sáu thử nghiệm mù đôi, có đối chứng tích cực ở ngoài Hoa Kỳ, trong đó tổng số 9589 bệnh nhân được điều trị trong 4 tuần đến 6 tháng. Trong những thử nghiệm này, hiệu quả của meloxicam, với liều 7,5 và 15 mg/ngày, có thể so sánh với piroxicam 20 mg/ngày, diclofenac SR 100 mg/ngày và phù hợp với hiệu quả đã thấy trong thử nghiệm ở Hoa Kỳ.

16. Quy cách đóng gói: Hộp 3 vỉ, 10 vỉ x 10 viên.

17. Điều kiện bảo quản: Nơi khô thoáng, nhiệt độ dưới 30oC, tránh ánh sáng.

18. Hạn dùng: 36 tháng kể từ ngày sản xuất.

19. Tiêu chuẩn: Tiêu chuẩn cơ sở.

Tên, địa chỉ của cơ sở sản xuất thuốc:

CÔNG TY CỔ PHẦN US PHARMA USA

Lô B1-10, Đường D2, Khu công nghiệp Tây Bắc Củ Chi, ấp Bàu Tre 2, xã Tân An Hội,

Huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

Mọi thắc mắc và thông tin chi tiết, xin liên hệ số điện thoại 028-37908860

 

 

 

                                                                                                  

 


Danh mục sản phẩm

Videos

Hình ảnh

/images/companies/uspharma/co dong/anh dhdcd 2025/BACKDROP DHCD ARENA 2025-01.jpg

Đại Hội Đồng Cổ Đông Thường Niên 2025

/images/companies/uspharma/co dong/anh dhcd 2024/Backdrop.jpg

Đại Hội Đồng Cổ Đông Thường Niên 2024

/images/companies/uspharma/co dong/dhdcd2023/1.jpg

Đại Hội Đồng Cổ Đông Thường Niên 2023

/images/companies/uspharma/dhdcd2022/1.jpg.jpg

Đại Hội Đồng Cổ Đông Thường Niên 2022

Thông tin liên hệ

Văn Phòng Đại Diện Công Ty CP US PHARMA USA
Địa chỉ: 286/4 Tô Hiến Thành, Phường Hòa Hưng, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
(028) 38621919 - 38627979
Công Ty CP US PHARMA USA
 Địa chỉ: Lô B1-10, Đường D2, Khu công nghiệp Tây Bắc Củ Chi, Ấp Bàu Tre 2, Xã Tân An Hội, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
(028) 37908860 – 37908861 – 37908863 Fax: (028) 37908856 Hotline: 02837909118
uspharma.vn 
GỌI CHO CHÚNG TÔI
Copyright 2018 © uspharma.vn