Rx
Meloxicam 7,5 mg
Thuốc này chỉ dùng theo đơn thuốc
Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng
Để xa tầm tay trẻ em
1. Thành phần công thức thuốc:
Mỗi
viên nén chứa:
-
Thành phần hoạt chất: Meloxicam ..............................7,5 mg
- Thành phần tá dược: Lactose, Tinh bột ngô, Avicel
PH101 (Microcrystallin cellulose M101), Starch 1500 (Pregelatinized starch),
Polyvinyl pyrrolidon (PVP) K30, Talc, Magnesi stearat, Colloidal silicon dioxyd
(Aerosil).
2. Dạng bào chế: Viên nén.
Mô tả
sản phẩm: Viên nén tròn, vát cạnh,
màu vàng, một mặt khum, 1 mặt lõm có khắc vạch, cạnh và thành viên lành lặn.
3. Chỉ định
ROBMELOX là
thuốc chống viêm không steroid được chỉ định điều trị triệu chứng trong:
- Viêm xương khớp
(bệnh hư khớp, bệnh thoái hoá khớp)
- Viêm khớp dạng
thấp
- Viêm cột sống
dính khớp
4. Liều dùng, cách dùng
Liều dùng:
- Viêm xương
khớp: 7,5 mg/ngày. Nếu cần thiết, liều có thể tăng lên 15 mg/ngày.
- Viêm khớp dạng
thấp: 15 mg/ngày. Tùy theo đáp ứng điều trị, liều có thể giảm thành 7,5 mg/ngày.
- Viêm cột sống
dính khớp: 15 mg/ngày. Tùy theo đáp ứng điều trị, liều có thể giảm thành 7,5
mg/ngày.
- Ở bệnh nhân
có nguy cơ cao bị những phản ứng bất lợi: Điều trị khởi đầu với liều 7,5
mg/ngày.
- Ở bệnh nhân
suy thận nặng đang lọc máu: Liều dùng không được quá 7,5 mg/ngày.
- Đối với
thanh thiếu niên: Liều tối đa được khuyến cáo là 0,25 mg/kg. Nói chung, chỉ giới
hạn sử dụng cho thanh thiếu niên và người lớn.
Nên sử dụng
thuốc trong thời gian ngắn nhất có thể và với liều thấp nhất đem lại hiệu quả
vì có khả năng phản ứng bất lợi tăng theo liều và thời gian sử dụng,
Tổng liều
dùng hằng ngày của meloxicam nên được sử dụng dưới dạng đơn liều (dùng một lần).
Liều tối đa hàng ngày được khuyến cáo là 15 mg với bất kỳ dạng bào chế nào.
Cách dùng: Uống nguyên viên với nước hoặc thức uống
lỏng khác trong cùng bữa ăn.
5. Chống chỉ định
- Tiền căn mẫn cảm
với meloxicam hoặc bất kỳ tá dược nào của thuốc.
- Bệnh nhân từng
có dấu hiệu hen phế quản tiến triển, polyp mũi, phù mạch hoặc nổi mày đay sau
khi dùng acid acetylsalicylic hoặc các thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) khác
vì có khả năng mẫn cảm chéo.
- Sử dụng cho điều
trị đau trước và sau phẫu thuật bắc cầu mạch vành (CABG).
- Gần đây có tiền
sử thủng/loét đường tiêu hóa hoặc đang tiến triển.
- Bệnh viêm ruột
tiến triển (bệnh Crohn hoặc viêm loét đại tràng).
- Suy gan nặng.
- Suy thận nặng
chưa được lọc máu.
- Xuất huyết đường
tiêu hóa rõ rệt, xuất huyết não gần đây hoặc các rối loạn xuất huyết toàn thân
được xác lập.
- Suy tim nặng
không kiểm soát.
-
Phụ nữ có thai hoặc cho con bú.
- Bệnh nhân có
bệnh lý di truyền hiếm gặp mà có thể không tương thích với một thành phần tá
dược của thuốc.
- Trẻ em dưới 12
tuổi.
6. Cảnh báo và thận
trọng khi
dùng thuốc
Cảnh báo:
Ảnh hưởng trên đường tiêu hóa (GI): Nguy cơ
loét, chảy máu và thủng đường tiêu hóa
Độc tính nghiêm trọng trên đường tiêu hóa, chẳng hạn như
viêm, chảy máu, loét và thủng dạ dày, ruột non hoặc ruột già, có thể xảy ra bất
cứ lúc nào, có hoặc không có triệu chứng cảnh báo, ở bệnh nhân được điều trị
bằng NSAIDs. Các vấn đề nhỏ tại đường tiêu hóa trên, chẳng hạn như chứng khó tiêu,
thường gặp và cũng có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong khi điều trị bằng NSAIDs.
Do đó, các bác sĩ và bệnh nhân nên cảnh giác về tình trạng loét và chảy máu,
ngay cả khi không có các triệu chứng GI trước đó. Phải
ngưng dùng meloxicam nếu xuất hiện loét dạ dày-tá tràng hoặc xuất huyết đường
tiêu hoá.
Bệnh nhân cần được thông báo về các dấu hiệu và/hoặc
triệu chứng của độc tính GI nghiêm trọng và cách xử trí nếu chúng xảy ra. Lợi ích của việc theo dõi định kỳ bằng
các xét nghiệm chưa được chứng minh, cũng như chưa được đánh giá đầy đủ. Chỉ
1/5 bệnh nhân tiến triển bệnh về đường tiêu hóa trên khi điều trị bằng NSAIDs
là có triệu chứng. Người ta đã chứng minh rằng loét đường tiêu hóa trên, chảy
máu hoặc thủng do NSAIDs gây ra, xuất hiện ở khoảng 1% bệnh nhân được điều trị
trong 3-6 tháng và ở khoảng 2-4 % bệnh nhân được điều trị trong một năm. Do đó, khi xu
hướng này tiếp diễn, làm tăng khả năng xảy ra biến cố GI nghiêm trọng vào một thời điểm nào đó
trong quá trình điều trị. Tuy nhiên, ngay cả liệu pháp điều trị ngắn hạn cũng
có thể đem lại rủi ro.
NSAIDs nên được kê đơn hết sức thận trọng đối với người
có tiền sử bệnh loét hoặc xuất huyết tiêu hóa. Hầu hết các báo cáo tự phát về
các biến cố GI gây tử vong là ở bệnh nhân cao tuổi hoặc suy nhược và do đó cần
đặc biệt lưu ý khi điều trị cho các đối tượng này. Để giảm thiểu nguy cơ có thể
xảy ra biến cố GI, nên sử dụng liều thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn
nhất có thể. Đối với bệnh nhân có nguy cơ cao, nên cân nhắc thay thế NSAIDs
bằng các liệu pháp khác.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng bệnh nhân sử
dụng NSAIDs có tiền sử loét
và/hoặc chảy máu đường tiêu hóa và tiền sử dùng
NSAIDs, có nguy cơ xuất huyết GI cao hơn 10 lần so với
bệnh nhân không có các yếu tố nguy cơ này. Ngoài ra, các nghiên cứu dược lý học đã xác định một số liệu pháp
đồng thời hoặc các tình trạng bệnh có thể làm tăng nguy cơ chảy máu GI như: sử
dụng corticosteroid đường uống, thuốc
chống đông máu, thời gian điều trị NSAIDs kéo dài, hút thuốc, nghiện rượu, tuổi cao
và tình trạng sức khỏe tổng quát kém.
Phản ứng phản vệ
Cũng như NSAIDs khác, phản ứng phản vệ xảy ra ở bệnh nhân
không được biết về nguy cơ này trước khi tiếp xúc với meloxicam. Không dùng meloxicam cho bệnh nhân gặp bộ ba triệu chứng aspirin. Tổ hợp
triệu chứng điển hình này xảy ra ở bệnh nhân hen phế quản, viêm mũi kèm theo hoặc không kèm theo polyp mũi, hoặc
có biểu hiện co thắt phế quản nặng, có khả năng tử vong sau khi dùng aspirin
hoặc NSAIDs khác (xem “Chống chỉ định” và “Thận trọng: Tiền sử bệnh hen phế quản”). Cần hỗ trợ y tế khẩn cấp trong trường hợp xảy ra phản ứng phản vệ.
Bệnh thận tiến triển
Trong trường hợp bệnh thận tiến triển, không khuyến khích
điều trị bằng meloxicam.
Nếu phải điều trị bằng NSAIDs, nên theo dõi chặt chẽ chức năng thận của bệnh
nhân (xem “Thận trọng: Ảnh hưởng trên thận”).
Thai kỳ
Cũng như NSAIDs khác, nên tránh dùng meloxicam trong giai đoạn cuối của thai kỳ vì có thể gây đóng sớm
ống động mạch.
Nguy cơ huyết khối tim mạch
NSAIDs, không gồm aspirin, dùng đường toàn thân, có thể làm tăng nguy cơ
xuất hiện biến cố huyết khối tim mạch, bao gồm cả nhồi máu cơ tim và đột quỵ,
có thể dẫn đến tử vong. Nguy cơ này có thể xuất hiện sớm trong vài tuần đầu
dùng thuốc và có thể tăng lên theo thời gian dùng thuốc. Nguy cơ huyết khối tim
mạch được ghi nhận chủ yếu ở liều cao.
Bác sĩ cần đánh giá định kỳ nguy
cơ và dấu hiệu của các biến cố tim
mạch, ngay cả khi bệnh nhân không có triệu chứng tim mạch trước đó. Bệnh nhân
cần được cảnh báo về các dấu hiệu và triệu chứng của biến cố tim mạch nghiêm trọng và cần thăm
khám bác sĩ ngay khi xuất hiện bất kỳ triệu chứng nào gợi ý tình trạng này.
Để giảm thiểu nguy cơ xuất hiện biến cố bất lợi, cần sử
dụng meloxicam với liều hàng ngày thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất có thể.
Các phản ứng
nghiêm trọng trên da
Các phản ứng
nghiêm trọng trên da, một số có thể gây tử vong, bao gồm viêm tróc lở da, hội
chứng Stevens-Johnson, hoại tử thượng bì nhiễm độc, rất hiếm khi được báo cáo
có liên quan với việc sử dụng NSAIDs. Bệnh nhân gặp phải nguy cơ cao nhất của
những phản ứng này thường ở giai đoạn đầu của quá trình điều trị; trong phần
lớn các trường hợp, các phản ứng khởi phát trong tháng đầu tiên khi bắt đầu dùng
thuốc. Nên ngừng sử dụng meloxicam ngay khi xuất hiện phát ban trên da, thương
tổn niêm mạc hoặc bất cứ dấu hiệu mẫn cảm nào.
Thận trọng:
Ảnh hưởng chung
Meloxicam không thể thay thế cho corticosteroid hay
liệu pháp điều trị suy giảm
corticosteroid. Việc ngừng sử dụng corticosteroid đột ngột có thể dẫn đến
các đợt cấp của bệnh. Bệnh nhân điều
trị corticosteroid kéo dài nên giảm liều dần dần nếu quyết định ngừng thuốc. Tác dụng dược lý của meloxicam trong việc giảm viêm và sốt có thể che lấp các dấu hiệu lâm sàng giúp chẩn đoán các biến chứng của những tình trạng đau được cho là không do
nhiễm khuẩn.
Ảnh hưởng trên gan
Kết quả tăng cao trong một hoặc nhiều xét nghiệm gan có
thể xảy ra ở 15% bệnh nhân dùng NSAIDs, bao gồm cả meloxicam. Những bất thường trong các xét nghiệm có thể tiến
triển, không thay đổi, hoặc có thể thoáng qua khi tiếp tục điều trị. Mức tăng
đáng chú ý của ALT hoặc AST (khoảng ≥ 3 lần giới hạn trên của mức bình thường) đã được báo cáo ở
khoảng 1% bệnh nhân trong các thử nghiệm lâm sàng với NSAIDs. Ngoài ra, một số
trường hợp hiếm gặp về các phản ứng gan nghiêm trọng, bao gồm vàng da và viêm gan cấp gây tử vong,
hoại tử gan, suy gan và một số trường hợp tử vong liên quan đến việc sử dụng
NSAIDs.
Bệnh nhân có các dấu hiệu và/hoặc triệu chứng gợi ý rối
loạn chức năng gan, hoặc kết quả xét nghiệm gan bất thường, cần được đánh giá để để xác định khả năng tiến triển bệnh
gan nghiêm trọng hơn khi điều trị bằng meloxicam. Nếu các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng cho
thấy bệnh gan tiến triển hoặc nếu xuất hiện các biểu hiện toàn thân (ví dụ: tăng bạch cầu ái toan, phát ban,...), nên ngừng sử dụng meloxicam.
Ảnh hưởng trên thận
Thận trọng khi bắt đầu điều trị bằng meloxicam ở bệnh nhân bị mất nước đáng kể. Nên bù nước cho bệnh
nhân trước
khi bắt đầu điều trị bằng meloxicam. Cần thận trọng với bệnh nhân có bệnh thận từ trước (xem
“Cảnh báo: Bệnh
thận tiến triển”).
Sử dụng NSAIDs trong thời gian dài đã dẫn đến hoại tử nhú
thận và các thay đổi khác tại tủy thận. Độc tính trên thận cũng đã được ghi
nhận ở bệnh nhân mà prostaglandin
thận có vai trò hỗ trợ trong việc duy trì tưới máu thận. Ở nhóm bệnh nhân này, NSAIDs có thể làm giảm sự hình thành
prostaglandin phụ thuộc liều, từ đó giảm lưu lượng máu qua thận, dẫn đến mất bù qua thận. Việc
ngừng điều trị bằng NSAIDs thường giúp phục hồi về trạng thái trước khi điều
trị.
Bệnh nhân có nguy
cơ cao nhất gặp những phản ứng trên bao gồm: bệnh nhân cao tuổi, bệnh nhân mất
nước, suy tim sung huyết, xơ gan, hội chứng thận hư và bệnh lý tại thận rõ rệt,
hoặc đang điều trị đồng thời với thuốc lợi tiểu, thuốc ức chế men chuyển (ACEI),
thuốc ức chế thụ thể angiotensin II (ARB) cũng như bệnh nhân đang trải qua
những đại phẫu có thể dẫn đến giảm thể tích máu.
Mức độ tích lũy của các chất chuyển hóa ở bệnh nhân suy thận chưa được
nghiên cứu với meloxicam. Vì một số chất chuyển hóa của meloxicam được bài tiết qua thận, cần theo dõi chặt chẽ bệnh nhân có chức năng thận suy giảm đáng kể.
Hiếm gặp hơn, NSAIDs có thể gây viêm thận kẽ, viêm cầu thận, hoại
tử nhu mô thận hoặc hội chứng thận hư.
Ảnh hưởng trên huyết học
Thiếu máu đôi khi được ghi nhận ở bệnh nhân dùng NSAIDs, bao gồm cả meloxicam. Điều này có thể là do giữ nước, mất máu GI, hoặc tác động
chưa được mô tả đầy đủ trên quá
trình tạo hồng cầu. Bệnh nhân đang
điều trị dài hạn với NSAIDs, bao gồm meloxicam, nên được kiểm tra huyết sắc tố hoặc hematocrit nếu có
bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào của bệnh thiếu máu.
Meloxicam ức chế sinh tổng hợp prostaglandin,
do vậy có thể cản trở ở một mức độ nào
đó chức năng tiểu cầu và đáp ứng của mạch máu đối với tình
trạng chảy máu. NSAIDs ức chế kết tập
tiểu cầu và được chứng minh là kéo dài thời gian chảy máu ở một số bệnh nhân.
Không giống như aspirin, tác dụng của meloxicam đối với chức năng tiểu cầu ít hơn, hoặc thời gian ngắn
hơn và có thể hồi phục. Meloxicam thường không ảnh hưởng đến số lượng tiểu cầu, thời gian
prothrombin (PT) hoặc thời gian thromboplastin hoạt hóa từng phần (PTT). Bệnh
nhân có rối loạn đông máu hoặc đang sử dụng thuốc chống đông cần được theo dõi
cẩn thận khi điều trị bằng meloxicam, do nguy cơ biến đổi chức năng tiểu cầu.
Giữ natri, kali và nước
NSAIDs có thể gây giữ muối natri, kali và nước cũng như
ngăn cản tác dụng kích thích bài tiết natri trong nước tiểu của thuốc lợi tiểu. Suy tim
hoặc tăng huyết áp có thể xuất hiện hoặc nặng thêm ở bệnh nhân mẫn cảm. Bệnh nhân có nguy cơ nên được theo dõi chặt
chẽ trên lâm sàng.
Tiền sử bệnh hen phế quản
Bệnh nhân hen phế quản có nguy cơ cao bị cơn
hen cấp do quá mẫn với aspirin. Việc sử dụng aspirin có thể gây co thắt phế quản nặng và đe
dọa tính mạng (hoặc có thể dẫn đến tử vong) ở nhóm bệnh nhân này. Đã có báo cáo
về phản ứng chéo, bao gồm co thắt phế quản, giữa aspirin và NSAIDs
khác ở bệnh nhân nhạy cảm với aspirin. Do đó, không dùng meloxicam cho bệnh nhân nhạy cảm với
aspirin và cần thận trọng khi sử dụng
cho bệnh nhân có tiền sử bệnh hen phế quản.
Chỉ số xét nghiệm
Bệnh
nhân điều trị lâu dài với NSAIDs nên được kiểm tra định kỳ công thức máu (CBC)
và các chỉ số sinh hóa. Nếu các dấu hiệu lâm sàng và triệu chứng phù hợp với
bệnh gan hoặc bệnh thận tiến triển, xuất hiện các phản ứng toàn thân (ví dụ:
tăng bạch cầu ái toan, phát ban,...) hoặc các xét nghiệm gan bất thường kéo dài hay trầm trọng hơn,
nên ngừng sử dụng meloxicam.
Trẻ em
Chưa
xác định được tính an toàn và hiệu quả của meloxicam cho trẻ em dưới 18 tuổi.
Người cao tuổi
Như
NSAIDs khác, cần thận trọng khi dùng meloxicam điều trị cho người cao tuổi
(> 65 tuổi).
Thông tin cho bệnh nhân
Meloxicam, tương
tự các thuốc khác cùng nhóm, có thể gây khó chịu và hiếm khi gây ra các tác
dụng không mong muốn nghiêm trọng hơn, như xuất huyết tiêu hóa có thể dẫn đến
nhập viện và thậm chí tử vong. Mặc dù loét và chảy máu đường tiêu hóa nghiêm
trọng có thể xảy ra mà không có triệu chứng cảnh báo, bệnh nhân nên cảnh giác
với các biểu hiện gợi ý loét và chảy máu, đồng thời nên hỏi ý kiến bác sĩ khi
nhận thấy bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nghi ngờ nào. Bệnh nhân nên được
nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi này (xem “Cảnh báo: Ảnh hưởng trên đường tiêu hóa (GI)”).
Báo cho bác sĩ các
dấu hiệu hoặc triệu chứng của loét hoặc chảy máu đường tiêu hóa, phát ban da,
tăng cân hoặc phù nề. Bệnh nhân cần được thông báo về các dấu hiệu cảnh báo và
triệu chứng của nhiễm độc gan (ví dụ: buồn nôn, mệt mỏi, hôn mê, ngứa, vàng da,
đau hạ sườn phải và các triệu chứng “giống cúm”). Nếu những triệu chứng này xảy
ra, cần ngừng điều trị và tìm kiếm liệu pháp y tế ngay lập tức.
Bệnh nhân cần tìm kiếm
trợ giúp y tế khẩn cấp trong trường hợp phản ứng phản vệ (xem “Cảnh báo:
Phản ứng phản vệ”).
Trong giai đoạn
cuối của thai kỳ, cũng như NSAIDs khác, không dùng meloxicam vì có thể gây đóng
sớm ống động mạch.
Cảnh
báo tá dược:
ROBMELOX
chứa tá dược:
- Lactose: Bệnh
nhân bị rối loạn di truyền hiếm gặp như không dung nạp galactose, thiếu hụt
lactase hoàn toàn hoặc kém hấp thu glucose - galactose không nên dùng thuốc
này.
7. Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú
Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai
Chống chỉ định meloxicam cho phụ nữ có thai.
Ức chế tổng hợp prostaglandin có thể ảnh hưởng đến
thai phụ và/hoặc sự phát triển của phôi thai. Dữ liệu từ các nghiên cứu dịch tễ
học cho thấy sự tăng nguy cơ sẩy thai, dị tật tim và thoát vị thành bụng bẩm
sinh (bệnh hở thành bụng bẩm sinh) sau khi sử dụng thuốc ức chế tổng hợp
prostaglandin ở giai đoạn sớm của thai kỳ. Nguy cơ gây dị tật tim tăng từ dưới
1% lên khoảng 1,5%. Người ta tin rằng nguy cơ này tăng khi tăng liều và khoảng
thời gian điều trị. Trong các nghiên cứu tiền lâm sàng, điều trị bằng chất ức
chế tổng hợp prostaglandin cho thấy tăng sẩy thai trước và sau khi làm tổ, tăng
tỷ lệ chết thai, Thêm vào đó, tăng tỷ lệ các dị tật khác bao gồm tim mạch được
báo cáo trong các nghiên cứu tiền lâm sàng có sử dụng chất ức chế prostaglandin
trong thời gian tạo thành các cơ quan.
Trong 3 tháng cuối của thai kỳ, tất cả các chất ức
chế tổng hợp prostaglandin có thể tác động trên thai nhi:
- Độc tính trên tim phổi (đóng sớm ống động mạch và
tăng huyết áp tĩnh mạch phổi).
- Rối loạn chức năng thận, có thể đẫn đến suy thận,
có sự hiện diện thiểu ối; ảnh hưởng trên mẹ và trên thai nhi giai đoạn cuối của
thai kỳ:
- Tăng thời gian chảy máu, tác dụng chống tập kết
tiểu cầu có thể xảy ra thậm chí ở liều rất thấp.
- Ức chế co bóp tử cung làm chậm thời gian chuyển
dạ.
Nên cân nhắc ngưng meloxicam ở những phụ nữ khó mang
thai, hoặc đang được chẩn đoán đánh giá vô sinh.
Sử dụng thuốc cho phụ nữ cho con bú
NSAIDs được tiết vào sữa mẹ, không có kinh nghiệm cụ
thể nào xảy ra với meloxicam. Do đó, chống chỉ định sử dụng trên phụ nữ đang
cho con bú.
8. Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe và vận hành máy móc
Chưa
có nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe hoặc vận hành máy móc.
Tuy nhiên, nên cảnh báo bệnh nhân là có thể gặp các tác dụng không mong muốn
như rối loạn thị giác kể cả nhìn mờ, xây xẩm, buồn ngủ, chóng mặt và các rối
loạn thần kinh trung ương khác.
Do vậy,
nên khuyên bệnh nhân thận trọng khi lái xe hoặc vận hành máy móc.
Nếu
bệnh nhân gặp các tác dụng không mong muốn, nên tránh những hoạt động có khả
năng gây nguy hiểm như lái xe hoặc vận hành máy móc.
9. Tương tác, tương kỵ của thuốc
Tương tác của thuốc với các thuốc khác và các
loại tương tác khác:
- Thuốc
ức chế tổng hợp prostaglandin (PSI) khác kể cá glucocorticoid và salicylat (acetylsalicylic
acid): Không khuyến cáo sử dụng đồng thời với các thuốc PSI do có thể làm tăng nguy cơ loét và xuất huyết tiêu
hóa thông qua tác dụng hiệp
đồng. Không khuyên dùng đồng
thời meloxicam với NSAIDs khác.
Sử dụng đồng thời với aspirin
(1000 mg 3 lần/ngày) trên người tình nguyện khoẻ mạnh có xu hướng làm tăng AUC (10%) và Cmax (24%)
của meloxicam. Chưa biết được ý nghĩa lâm sàng của tương tác này.
- Thuốc chống đông máu đường uống, heparin dùng đường toàn thân, thuốc
tiêu huyết khối: Tăng nguy cơ chảy máu. Cần theo dõi chặt chẽ tác dụng
chống đông máu nếu phải phối hợp thuốc.
- Thuốc
chống kết tập tiểu cầu và ức chế thu hồi serotonin có chọn lọc (SSRI): Tăng nguy cơ chảy máu thông qua ức chế chức năng tiểu cầu.
- Lithium: NSAIDs đã được ghi nhận làm tăng lithium huyết tương (do làm giảm bài tiết lithium qua thận), có thể dẫn
đến mức gây độc. Không khuyến cáo sử
dụng đồng thời lithium và NSAIDs.
Nếu cần thiết phải kết hợp, cần theo dõi nồng độ lithium huyết tương cẩn thận khi bắt đầu điều trị, điều chỉnh
và khi dừng meloxicam.
- Methotrexat: NSAIDs có thể làm giảm bài
tiết methotrexat ở ống thận dẫn đến làm tăng nồng độ methotrexat trong huyết tương. Do vậy, với bệnh nhân dùng liều cao methotrexat (> 15 mg/tuần), không khuyến cáo
dùng đồng thời với NSAIDs. Nguy cơ tương tác giữa NSAIDs và methotrexat cũng
nên được xem xét trên bệnh nhân dùng liều thấp methotrexat, đặc biệt là bệnh nhân suy giảm chức năng thận. Trong trường hợp phải kết hợp
điều trị, cần theo dõi công thức máu và chức năng thận. Cần thận trọng
trong trường hợp dùng đồng thời NSAIDs và
methotrexat trong vòng 3 ngày, khi mà nồng độ methotrexat huyết tương có thể tăng và làm tăng độc tính. Mặc dù dược
động học của methotrexat (15
mg/tuần) không bị ảnh hưởng khi sử dụng đồng thời với
meloxicam, cần xét đến độc tính trên hệ tạo máu của methotrexat có thể bị khuếch đại do điều
trị cùng NSAIDs.
- Tránh thai: Sự giảm hiệu lực của các dụng
cụ tránh thai đặt trong tử cung do NSAIDs đã được ghi nhận nhưng cần được khẳng định thêm.
- Thuốc lợi tiểu: Dùng chung thuốc lợi tiểu với NSAIDs có nguy
cơ cao dẫn đến suy thận cấp ở bệnh nhân bị mất nước. Bệnh nhân đang dùng meloxicam với thuốc lợi tiểu cần được bổ sung đầy đủ nước
và theo dõi chức năng thận trước khi bắt đầu điều trị.
- Thuốc điều trị
tăng huyết áp (thuốc
chẹn β, ACEI,
thuốc giãn mạch, lợi
tiểu): Giảm tác dụng của thuốc hạ huyết áp do ức chế prostaglandin gây giãn mạch đã được ghi
nhận trong khi điều trị với NSAIDs.
- Thuốc
ức chế thụ thể angiotensin II,
ức chế men chuyển: Có tác dụng hiệp đồng với
NSAIDs làm giảm mức lọc cầu thận.
Trên bệnh nhân suy giảm chức năng thận, có thể dẫn đến suy thận cấp.
- Cholestyramin gắn với meloxicam ở đường tiêu
hoá dẫn đến thải trừ meloxicam nhanh hơn.
- Cyclosporin: NSAIDs có thể làm tăng độc tính trên thận của cyclosporin qua tác dụng trung gian của prostaglandin. Cần kiểm tra
đánh giá chức năng thận trong điều trị kết hợp.
- Pemetrexed: Khi sử dụng đồng thời
meloxicam với pemetrexed ở bệnh nhân có độ thanh thải creatinin từ 45-79 mL/phút, nên ngừng dùng meloxixam 5 ngày trước, trong, và 2 ngày sau khi sử dụng pemetrexed. Nếu việc sử dụng đồng thời là cần thiết, cần theo dõi chặt chẽ bệnh nhân, đặc biệt là các tác dụng không mong muốn trên đường tiêu hóa và ức chế tủy. Không khuyến cáo sử dụng đồng thời
meloxicam và pemetrexed ở bệnh nhân có độ thanh thải creatinin dưới
45 mL/phút.
Meloxicam được loại trừ hầu
như hoàn toàn khi chuyển hóa qua gan, trong đó khoảng 2/3 qua trung gian của các enzym cytocrom (CYP) P450
(thông qua con đường chuyển hoá chính CYP 2C9 và đường chuyển hoá phụ CYP 3A4) và 1/3 qua những đường chuyển hoá khác như oxy hoá peroxidase. Cần chú ý khả năng xuất hiện
tương tác dược động học khi sử dụng
meloxicam và thuốc được biết là bị ức chế hay cảm
ứng bởi CYP 2C9 và/hoặc CYP 3A4.
Có thể dự tính các tương tác qua CYP 2C9 khi dùng kết hợp
với các thuốc như thuốc điều trị đái
tháo đường dạng uống (sulfonylure, nateglinid), mà có
thể dẫn đến tăng nồng độ của các thuốc này và meloxicam trong huyết tương. Nên giám sát chặt chẽ
việc hạ đường huyết ở bệnh nhân dùng
đồng thời meloxicam và
sulphonylure hoặc nateglinid.
Không có các tương tác được
động học thuốc-thuốc rõ rệt được phát hiện với việc sử dụng đồng thời thuốc kháng acid, cimetidin,
digoxin và furosemid.
Tương kỵ của thuốc
Do chưa có thông tin về tính tương kỵ của thuốc, không
trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.
10. Tác dụng không mong muốn của thuốc (ADR)
Những tác dụng không mong muốn được ghi nhận sau đây
có thể liên quan đến việc sử dụng meloxicam đã được biết đến qua kết quả
những báo cáo liên quan với việc sử dụng dạng uống sau khi đã được đưa ra thị
trường được theo dõi bởi một số tham chiếu.
Các tác dụng không mong muốn được phân loại với các
tần suất: Rất thường gặp (≥ 1/10); thường gặp (≥ 1/100 đến < 1/10); ít gặp
(≥ 1/1.000 đến < 1/100); hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000); rất hiếm
gặp (< 1/10.000); chưa rõ (không thể ước tính từ dữ liệu có sẵn).
|
Hệ cơ quan
|
Tác dụng
không mong muốn
|
Tần suất
|
|
Rối loạn máu và bạch huyết
|
Thiếu máu
|
Ít gặp
|
|
Công thức máu bất thường (bao gồm số
lượng các loại bạch cầu), giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu
|
Hiếm gặp
|
|
Rối loạn miễn dịch
|
Phản ứng phản vệ, phản ứng dạng phản
vệ
|
Chưa rõ 1
|
|
Phản ứng tăng mẫn cảm tức thì khác
|
Ít gặp
|
|
Rối loạn tâm thần
|
Tình trạng lú lẫn, mất định hướng
|
Chưa rõ 1
|
|
Thay đổi khí sắc
|
Hiếm gặp
|
|
Rối loạn thần kinh
|
Nhức đầu
|
Thường gặp
|
|
Choáng váng, buồn ngủ
|
Ít gặp
|
|
Rối loạn mắt
|
Rối loạn thị giác bao gồm nhìn mờ,
viêm kết mạc
|
Hiếm gặp
|
|
Rối loạn tai và tiền đình
|
Chóng mặt
|
Ít gặp
|
|
Ù tai
|
Hiếm gặp
|
|
Rối loạn về tim
|
Tim đập nhanh
|
Hiếm gặp
|
|
Rối loạn mạch máu
|
Tăng huyết áp, đỏ bừng
|
Ít gặp
|
|
Rối loạn ngực, trung thất và hô hấp
|
Hen phế quản
|
Hiếm gặp
|
|
Rồi loạn tiêu hóa
|
Đau bụng, khó tiêu, tiêu chảy, buồn
nôn, nôn
|
Thường gặp
|
|
Xuất huyết tiêu hóa vi thể hoặc đại
thể, viêm dạ dày, viêm miệng, táo bón, đầy hơi, ợ hơi
|
Ít gặp
|
|
Loét dạ dày-tá tràng, viêm đại tràng,
viêm thực quản
|
Hiếm gặp
|
|
Thủng đường tiêu hóa
|
Rất hiểm gặp
|
|
Rối loạn gan mật
|
Bất thường xét nghiệm chức năng gan
(ví dụ: tăng transaminase hoặc bilirubin)
|
Ít gặp
|
|
Viêm gan
|
Rất hiểm gặp
|
|
Rối loạn da và mô dưới da
|
Phù mạch nổi mẫn, ngứa
|
Ít gặp
|
|
Mày đay, hoại tử thượng bì nhiễm độc,
hội chứng Stevens-Johnson
|
Hiếm gặp
|
|
Viêm da bóng nước, hồng ban đa dạng
|
Rất hiểm gặp
|
|
Phản ứng nhạy cảm với ánh sáng
|
Chưa rõ 1
|
|
Rối loạn thận và tiết niệu
|
Bất thường xét nghiệm chức năng thận
(tăng creatinin huyết thanh và/hoặc urea huyết thanh; rối loạn tiểu tiện, bao
gồm cả bí tiểu cấp 3
|
Ít gặp
|
|
Suy thận cấp
|
Rất hiểm gặp
|
|
Rối loạn chung và biểu hiện tại nơi dùng
thuốc
|
Phù nề
|
Ít gặp
|
|
Rối loạn nội tiết
|
Trì hoãn rụng trứng
|
Ít gặp
|
|
Rối loạn hệ sinh sản và tuyến vú
|
Vô
sinh nữ
|
Chưa
rõ 2,3
|
1 Chưa rõ tần suất, không quan sát thấy
trong thử nghiệm lâm sàng trên 15.197 bệnh nhân.
2 Chưa rõ tần suất, không quan sát thấy
trong thử nghiệm lâm sàng trên 286 bệnh nhân nữ tuổi ≤ 50. Nhóm bệnh nhân nữ
này là một nhóm nhỏ trong số 15.197 bệnh nhân từ thử nghiệm lâm sàng và được
đặc trưng bởi thời gian quan sát trong ít nhất 90 ngày.
3 Không quan sát thấy trên nhóm quần thể bệnh
nhân được chọn trong các thử nghiệm lâm sàng (286 bệnh nhân); tần suất được ước
tính theo hướng dẫn SmPC của EU tháng 09/2009 về các tác dụng không mong muốn
từ báo cáo tự phát, tức là giới hạn trên khoảng tin cậy 95% của ước lượng điểm
3/N với N là tổng số cỡ mẫu sử dụng để tính toán (N=286). Do đó, tần suất của
“vô sinh nữ” được ước tính là thường gặp (3/286).
Nguy cơ huyết khối tim mạch: xem Cảnh báo và thận trọng khi dùng
thuốc.
Báo cáo các phản ứng có hại
Thông báo ngay cho bác sỹ hoặc dược sĩ khi gặp các
tác dụng không mong muốn như trên khi sử dụng thuốc hoặc báo cáo các phản ứng
có hại của thuốc về Trung tâm Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của
thuốc (ADR) Quốc Gia. Địa chỉ: 13 - 15 Lê Thánh Tông - Hoàn Kiếm - Hà Nội. Điện
thoại: 0243 9335 618; Fax: 0243 9335642; Email: di.pvcenter@gmail.com.
11. Quá liều và cách
xử trí
Có ít kinh nghiệm về quá liều meloxicam. Bốn trường hợp đã uống gấp 6-11 lần liều tối đa khuyến cáo và tất cả đã phục hồi.
Cholestyramin được biết là có tác dụng đẩy nhanh quá trình thanh thải
meloxicam. Các triệu chứng sau khi dùng quá liều NSAIDs cấp tính thường giới
hạn ở trạng thái hôn mê, buồn ngủ, buồn nôn, nôn, đau thượng vị và thường có
thể hồi phục khi được chăm sóc hỗ trợ. Xuất huyết tiêu hóa có thể xảy ra. Ngộ
độc nặng có thể dẫn đến tăng huyết áp, suy thận cấp, rối loạn chức năng gan, suy
hô hấp, hôn mê, co giật, trụy tim mạch và ngừng tim. Các phản ứng phản vệ cũng
đã được báo cáo sau khi dùng quá liều NSAIDs.
Bệnh nhân nên được chăm sóc hỗ trợ và điều trị triệu
chứng sau khi dùng quá liều NSAIDs. Trong trường hợp quá liều cấp tính, nên rửa
dạ dày sau đó dùng than hoạt tính. Thực hiện rửa dạ dày hơn một giờ sau khi dùng quá liều
có rất ít lợi ích trong điều trị quá liều. Dùng than hoạt tính được khuyến cáo
cho bệnh nhân có biểu hiện sau khi dùng quá liều 1-2 giờ. Đối với bệnh nhân quá
liều đáng kể hoặc có triệu chứng nghiêm trọng, có thể dùng than hoạt tính nhiều
lần. Meloxicam được loại bỏ nhanh chóng bằng cách uống 4 g cholestyramin ba lần một
ngày đã được chứng minh trong một thử nghiệm lâm sàng. Sử dụng cholestyramin có
thể hữu ích sau khi dùng quá liều meloxicam. Bài niệu cưỡng bức, kiềm hóa nước
tiểu, thẩm tách máu, hoặc truyền máu có thể không hữu ích do meloxicam liên kết
với protein huyết tương cao.
12. Đặc tính dược lực học
Nhóm dược lý: Thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs), dẫn xuất oxicam, nhóm acid enolic.
Mã ATC: M01AC06.
Cơ chế tác dụng:
Meloxicam thuộc nhóm NSAIDs loại acid enolic, có tác dụng chống viêm, giảm đau và hạ sốt trên động vật. Meloxicam có hoạt tính chống
viêm trên tất cả các mô hình viêm chuẩn. Cơ chế tác dụng chung cho những tác dụng trên có
thể do meloxicam ức chế sinh tổng hợp các prostaglandin được biết là những chất trung gian
gây viêm.
So sánh liều gây loét và liều có tác dụng chống viêm trên
mô hình viêm khớp ở chuột cống đã khẳng định lợi ích điều trị của thuốc vượt trội NSAIDs
chuẩn trên động vật. In vivo, meloxicam đã ức chế sinh tổng
hợp prostaglandin ở vị trí viêm mạnh hơn tại niêm mạc dạ dày hay ở thận.
Người ta cho rằng những khác biệt nêu trên có liên quan
đến sự ức chế chọn lọc trên COX-2 so với COX-1 và tin rằng ức chế COX-2 đem lại những hiệu quả trị liệu
của NSAIDs, trong khi ức chế chủ yếu COX-1 lại có thể chịu trách nhiệm cho những phản ứng phụ trên
niêm mạc dạ dày hay thận.
Tính ức chế chọn lọc trên COX-2 của meloxicam đã được khẳng định trong một số các hệ thống thử nghiệm in vitro lẫn ex vivo. Trong thử
nghiệm máu toàn phần người, meloxicam cho thấy thuốc ức chế chọn lọc COX-2 trên in vitro.
Trong thử nghiệm ex vivo,
meloxicam (7,5 và 15 mg) cho thấy ức chế nhiều hơn trên COX-2, như đã được chứng tỏ bằng việc ức chế
nhiều hơn trên sự sản xuất PGEG2 được kích thích bởi lipopolysaccarid (COX-2) so với sự
sản xuất thromboxan trong cục máu đông (COX-1). Những tác động này phụ thuộc liều dùng. Meloxicam
không có tác động trên sự kết tập tiểu cầu hoặc thời gian máu chảy ở những liều
khuyến cáo dùng trong thử nghiệm ex vivo, trong khi indomethacin,
diclofenac, ibuprofen và naproxen ức chế đáng kể sự kết tập tiểu cầu và kéo dài sự chảy máu.
Các thứ nghiệm lâm sàng
Trong các thử nghiệm lâm sàng, nhìn chung meloxicam 7,5 và 15 mg ít gây ra các phản ứng phụ trên đường tiêu hóa hơn so với NSAIDs đối chiếu do tần
suất thấp hơn đáng kể các phản ứng phụ như khó tiêu, nôn mửa và đau bụng. Tần suất thủng, loét, xuất huyết đường
tiêu hóa trên được báo cáo có liên quan đến meloxicam thấp và phụ thuộc liều dùng.
Không có nghiên cứu riêng lẻ đủ lớn để phát hiện những
khác biệt về mặt thống kê tần suất thủng, tắc nghẽn, xuất huyết đường tiêu hóa có ý nghĩa
lâm sàng giữa meloxicam và NSAIDs khác. Một phân tích gộp đã được tiến hành trên bệnh nhân
viêm xương khớp, viêm khớp dạng thấp và viêm cột sống dính khớp được điều trị bằng
meloxicam trong 35 thử nghiệm lâm sàng. Thời gian dùng meloxicam trong thử nghiệm này thay
đổi từ 3 tuần đến 1 năm (đa số các bệnh nhân được thu nhận tham gia các nghiên cứu kéo dài 1
tháng). Hầu hết những bệnh nhân được phép tham gia các thử nghiệm trên đều có tiền sử
thủng, loét hay xuất huyết đường tiêu hóa.
Tần suất thủng, tắc nghẽn hay xuất huyết (POB) được đánh
giá hồi cứu sau việc đánh giá 'mù' và độc lập các trường hợp; kết quả được trình bày ở bảng dưới đây:
Nguy cơ tích lũy
thủng, tắc nghẽn hay xuất huyết của meloxicam 7,5 mg và 15 mg từ các
thử nghiệm lâm sàng
của BI so với diclofenac và piroxicam
(ước tính theo phương pháp Kaplan-Meier)
|
ĐIÊU TRỊ
(Liều mỗi
ngày)
|
Khoảng thời
gian
(ngày)
|
Số bệnh nhân
tại điểm giữa khoảng thời gian
|
Thủng, tắc
nghẽn, xuất huyết trong khoảng thời gian
|
Nguy cơ (%)
|
Khoảng tin cậy 95%
|
|
Meloxicam
|
|
|
|
|
|
|
7,5 mg
|
1 - <30
|
9636
|
2
|
0,02
|
0,00 - 0,05
|
|
30 - <91
|
551
|
1
|
0,05
|
0,00 - 0,13
|
|
15 mg
|
1 - <30
|
2785
|
3
|
0,12
|
0,00 - 0,25
|
|
30 - <91
|
1683
|
5
|
0,40
|
0,12 - 0,69
|
|
91 - <182
|
1090
|
1
|
0,50
|
0,16 - 0,83
|
|
182 - <365
|
642
|
0
|
0,50
|
|
|
Diclofenac
|
|
|
|
|
|
|
100 mg
|
1 - <30
|
5110
|
7
|
0,14
|
0,04 - 0,24
|
|
30 - <91
|
493
|
2
|
0,55
|
0,00 - 1,13
|
|
Piroxicam
|
|
|
|
|
|
|
20 mg
|
1 - <30
|
5071
|
10
|
0,20
|
0,07 - 0,32
|
|
30 - <91
|
532
|
6
|
1,11
|
0,35 - 1,86
|
Trong một nghiên cứu lâm sảng mù đôi, ngẫu nhiên ở trẻ bị
viêm khớp dạng thấp thiếu niên (JRA) 2-16 tuổi, meloxieam hỗn dịch dạng uống dùng một lần mỗi ngày ở liều 0,125 mg/kg cân nặng (N=73) và
0,25 mg/kg cân nặng (N=74) được so sánh với naproxen 10 mg/kg cân nặng/ngày (BID) (N=78).
Tỷ lệ đáp ứng sau một năm điều trị là 77%, 76% và 74% và như vậy tương đương nhau giữa
ba nhóm điều trị. Tỷ lệ tác dụng không mong muốn là 74%, 80% và 85% tương ứng ở nhóm dùng
meloxicam 0,125 mg/kg/ngày, 0,25 mg/kg/ngày và naproxen 10 mg/kg/ngày.
13. Đặc tính dược động học
Hấp thu
Sinh khả dụng tuyệt đối của viên nang meloxicam là 89%
sau khi uống một liều 30 mg so với 30 mg tiêm bolus IV. Viên nang meloxicam đã
được chứng minh là tương đương sinh học với viên nén meloxicam.
Sau liều tiêm tĩnh mạch duy nhất, dược động học tỷ lệ với
liều dùng trong khoảng 5-60 mg.
Sau khi uống nhiều liều, dược động học của viên nang
meloxicam tỷ lệ
với liều trong khoảng 7,5-15 mg. Sự hấp thu meloxicam kéo dài, Cmax trung bình đạt được
trong vòng 4-5 giờ sau khi uống một viên nén meloxicam 7,5 mg trong điều kiện nhịn ăn. Tốc độ hoặc mức
độ hấp thu không bị ảnh hưởng khi dùng đa liều, cho thấy dược động học có sự tuyến tính. Sau nhiều
liều dùng, điều kiện trạng thái ổn định đã đạt được vào ngày thứ 5. Đỉnh nồng
độ thứ hai của meloxicam đạt được khoảng 12-14 giờ sau khi dùng thuốc chứng tỏ có sự tái tuần hoàn
meloxicam trong đường tiêu hóa.
Các thông số dược động học của liều duy nhất
và ở trạng thái ổn định khi dùng đường uống 7,5 và 15 mg meloxicam (Trung bình
và % CV)1
|
Các
thông số dược động học
(%CV)
|
Trạng thái ổn định
|
Liều duy nhất
|
|
Nam giới trưởng thành khỏe mạnh
(Trạng thái no)2
|
Nam giới cao tuổi
(Trạng thái no)2
|
Nữ giới cao tuổi
(Trạng thái no)2
|
Suy thận
(Trạng thái đói)
|
Suy gan
(Trạng thái đói)
|
|
Viên nén3
7,5 mg
|
Viên nang
15 mg
|
Viên nang 15 mg
|
Viên nang
15 mg
|
Viên nang
15 mg
|
|
N
|
18
|
5
|
8
|
12
|
12
|
|
Cmax [µg/mL]
|
1,05
(20)
|
2,3
(59)
|
3,2
(24)
|
0,59
(36)
|
0,84
(29)
|
|
tmax [giờ]
|
4,9
(8)
|
5
(12)
|
6
(27)
|
4
(65)
|
10
(87)
|
|
t1/2 [giờ]
|
20,1
(29)
|
21
(34)
|
24
(34)
|
18
(46)
|
16
(29)
|
|
CL/f
[mL/phút]
|
8,8
(29)
|
9,9
(76)
|
5,1
(22)
|
19
(43)
|
11
(44)
|
|
Vz/f4 [L]
|
14,7
(32)
|
15
(42)
|
10
(30)
|
26
(44)
|
14
(29)
|
1 Các giá trị
tham số trong bảng là từ các nghiên cứu khác nhau
2 Trong điều kiện không nhiều chất béo
3 Viên nén meloxicam
4 Vz/f = Liều lượng/(AUC).Kcl
Thực phẩm và thuốc kháng acid
Uống thuốc sau bữa sáng nhiều chất béo (75 g chất béo)
không ảnh hưởng đến mức độ hấp thu của viên nang meloxicam, nhưng dẫn đến giá
trị Cmax cao hơn 22%. Cmax trung bình đạt được trong
khoảng 5-6 giờ. Không phát hiện tương tác dược động học khi dùng đồng thời
meloxicam với thuốc kháng acid. Viên nén meloxicam 7,5 mg có thể được sử dụng
mà không cần chú ý đến thời gian của bữa ăn và thuốc kháng acid.
Phân bố
Thể tích phân bố trung bình (Vss) của meloxicam là khoảng
10 L. Khoảng 99,4% meloxicam liên kết với protein huyết tương người (chủ yếu là
albumin) trong khoảng liều điều trị. Tỷ lệ meloxicam gắn kết với protein huyết tương không phụ
thuộc vào nồng độ thuốc trong khoảng nồng độ lâm sàng, nhưng giảm xuống ~ 99% ở
bệnh nhân bệnh thận. Có ít hơn 10% meloxicam thâm nhập vào tế bào hồng cầu
người sau khi uống thuốc. Khi dùng liều thuốc được gắn phóng xạ, hơn 90% hoạt
độ phóng xạ được phát hiện trong huyết tương là meloxicam dạng không đổi.
Sau một liều uống duy nhất, nồng độ meloxicam trong dịch
khớp, nằm trong khoảng từ 40% đến 50% nồng độ trong huyết tương. Phần meloxicam
tự do trong dịch khớp cao hơn 2,5 lần so với trong huyết tương, do hàm lượng
albumin trong dịch khớp thấp hơn so với huyết tương. Ý nghĩa của sự thâm nhập
của meloxicam vào dịch khớp vẫn chưa được biết.
Chuyển hóa
Meloxicam được chuyển hóa gần như hoàn toàn thành bốn
chất chuyển hóa không hoạt tính. 5'-carboxy meloxicam là chất chuyển hóa chính
(60% liều dùng), được tạo ra do sự oxy hóa chất chuyển hóa 5'-hydroxymethyl meloxicam (9% liều dùng) qua trung gian hệ enzym P450.
Các nghiên cứu in
vitro chỉ ra rằng CYP 2C9 đóng vai trò quan trọng trong con đường chuyển hóa này với sự đóng góp
nhỏ của isozym CYP 3A4. Hoạt tính của peroxidase ở bệnh nhân có thể dẫn đến sự
hình thành của hai chất chuyển hóa khác, lần lượt chiếm 16% và 4% liều dùng.
Thải trừ
Bài tiết meloxicam chủ yếu ở dạng chất chuyển hóa và xảy
ra ở mức độ ngang nhau trong nước tiểu và phân. Chỉ một lượng nhỏ meloxicam
dạng không đổi được bài tiết qua nước tiểu (0,2%) và phân (1,6%). Mức độ bài
tiết qua nước tiểu đã được xác nhận sau khi dùng nhiều liều 7,5 mg meloxicam:
0,5%, 6% và 13% của liều dùng, lần
lượt tương ứng với meloxicam, chất chuyển
hóa 5'-hydroxymethyl và 5'-carboxy. Có sự bài tiết đáng kể qua mật và/hoặc
đường ruột của thuốc. Điều này đã được chứng minh khi uống cholestyramin sau
một liều meloxicam IV làm giảm AUC của meloxicam tới 50%. Thời gian bán thải
trung bình (t1/2)
từ 15-20 giờ. Thời gian bán thải không đổi ở các mức liều cho
thấy chuyển hóa tuyến tính trong khoảng liều điều trị. Độ thanh thải trong
huyết tương từ 7-9 mL/phút.
Tính
tuyến tính
Meloxicam biểu thị được động
học tuyến tính trong khoảng liều điều trị 7,5-15 mg đường uống cũng như đường tiêm
bắp.
Nhóm bệnh nhân đặc biệt
Trẻ em
Trong một nghiên cứu trên 36 bệnh nhi, phép đo được động
học đã được tiến hành trên 18 trẻ với liều 0,25 mg/kg cân nặng dùng dưới dạng huyền dịch uống. Cmax
(-34%) cũng như AUC0-∞ (-28%) có xu hướng thấp hơn ở nhóm trẻ có tuổi ít hơn (từ 2-6 tuổi, N=7) so với nhóm tuổi lớn hơn (7-14 tuổi, N=11) trong khi độ thanh thải trung bình của nhóm trẻ ít
tuổi lại cao hơn. Một so sánh trong lịch sử trên người lớn đã cho thấy nồng độ trong huyết
tương ít nhất cũng tương tự giữa trẻ lớn và người lớn. Thời gian bán thải (13 giờ) cho cả hai
nhóm tương tự nhau và có xu hướng ngắn hơn so với người lớn (15-20 giờ).
Người cao tuổi
Nam giới cao tuổi (≥ 65 tuổi) có nồng độ meloxicam trong
huyết tương và dược động học ở trạng thái ổn định tương tự như nam giới trẻ. Nữ
giới cao tuổi (≥ 65 tuổi) có AUCss cao
hơn 47% và Cmaxss cao hơn 32%
so với phụ nữ trẻ hơn (≤ 55 tuổi) sau khi bình thường hóa trọng lượng cơ thể.
Mặc dù tổng nồng độ thuốc trong huyết tương tăng ở phụ nữ cao tuổi, dữ liệu về
các tác dụng bất lợi có thể so sánh được giữa người cao tuổi ở cả hai giới
tính. Meloxicam dạng tự do được tìm thấy với lượng ít hơn trong huyết tương ở
bệnh nhân nữ cao tuổi so với bệnh nhân nam cao tuổi.
Giới tính
Phụ nữ trẻ tuổi có nồng độ trong huyết tương thấp hơn một
chút so với đàn ông trẻ tuổi. Sau khi dùng một liều 7,5 mg meloxicam, thời gian bán thải trung bình của nhóm nữ là 19,5 giờ
so với 23,4 giờ của nhóm nam. Ở trạng thái ổn định, dữ liệu tương tự (17,9 giờ
của nhóm nữ so với 21,4 giờ của nhóm nam). Sự khác biệt về dược động học do
giới tính ít quan trọng về mặt lâm sàng. Có sự tuyến tính về dược động học và
không có sự khác biệt đáng kể về Cmax
hoặc Tmax giữa hai giới tính.
Suy gan
Sau một liều meloxicam 15 mg duy nhất, không có sự khác
biệt rõ rệt về nồng độ trong huyết tương ở những đối tượng bị suy gan nhẹ
(Child-Pugh nhóm I)
và trung bình (Child-Pugh nhóm II) so với những người tình nguyện khỏe mạnh. Sự gắn kết
với protein huyết tương của meloxicam không bị ảnh hưởng bởi suy gan. Không cần
điều chỉnh liều trong suy gan nhẹ đến trung bình. Bệnh nhân suy gan nặng
(Child-Pugh nhóm
III) chưa được nghiên cứu đầy đủ.
Suy thận
Dược động học của meloxicam đã được nghiên cứu ở những
đối tượng có mức độ suy thận khác nhau. Tổng nồng độ thuốc trong huyết tương
giảm theo mức độ suy thận trong khi giá trị AUC tự do tương tự nhau. Tổng độ
thanh thải của meloxicam tăng lên có thể do sự gia tăng phần tự do dẫn đến tăng
độ thanh thải. Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận nhẹ đến trung
bình (CrCl
> 15 mL/phút). Bệnh nhân suy thận nặng chưa được nghiên cứu đầy đủ. Không
khuyến cáo sử dụng meloxicam ở những đối tượng bị suy thận nặng (xem ‘Cảnh báo: Bệnh thận tiến triển’).
Thẩm phân máu
Sau một liều meloxicam duy nhất, nồng độ Cmax tự do trong huyết tương ở bệnh
nhân suy thận đang thẩm phân máu mạn tính cao hơn (phần tự do 1%) so với người tình nguyện
khỏe mạnh (0,3% phần tự do). Thẩm phân máu không làm giảm tổng nồng độ thuốc
trong huyết tương, do đó không cần thiết phải bổ sung liều sau khi thẩm phân
máu. Meloxicam không thẩm tách được.
14. Khả năng gây ung thư, đột
biến, suy giảm khả năng sinh sản
Không nhận thấy tác dụng gây ung thư của meloxicam khi cho chuột cống uống với
liều lên đến 0,8 mg/kg/ngày (gấp khoảng 0,4 lần so với liều dùng 15 mg/ngày cho người
lớn 50 kg, dựa
trên sự chuyển đổi diện tích bề mặt cơ thể) trong 104 tuần hoặc khi cho chuột
nhắt uống với liều lên đến 8,0 mg/kg/ngày (gấp khoảng 2,2 lần liều dùng cho
người, như đã nói ở trên) trong 99 tuần.
Meloxicam không gây đột biến trong xét nghiệm
Ames, xét nghiệm
biến dị quang sai nhiễm sắc thể trên tế bào lympho người và xét nghiệm vi nhân in vivo trong tủy xương chuột nhắt.
Meloxicam không làm giảm khả năng sinh sản của chuột cống
đực và cái ở liều uống lên đến tương ứng 9 và 5 mg/kg/ngày (4,9 lần và 2,5 lần
liều dùng cho người, như đã nêu ở trên). Tuy nhiên, sự gia tăng tỷ lệ chết phôi
ở liều uống ≥ 1 mg/kg/ngày (gấp 0,5 lần liều dùng cho người, như đã nêu ở trên)
đã được quan sát thấy ở chuột mẹ khi được dùng meloxicam 2 tuần trước khi giao
phối và trong suốt quá trình phát triển phôi sớm.
15. Dữ liệu từ các
thử nghiệm lâm sàng
Việc sử dụng meloxicam để điều trị các dấu hiệu và triệu
chứng của viêm khớp gối và háng đã được đánh giá trong một thử nghiệm mù đôi có
đối chứng ở Hoa Kỳ với 464 bệnh nhân được điều trị bằng meloxicam trong 12
tuần. Meloxicam (3,75 mg; 7,5 mg và 15 mg mỗi ngày) được so sánh với giả dược.
Bốn tiêu chí chính là đánh giá toàn diện điều tra viên, đánh giá toàn diện bệnh
nhân, đánh giá mức độ đau của bệnh nhân và tổng điểm WOMAC (dựa vào tình trạng đau khớp, tình trạng cứng khớp và mức
độ khó khăn khi cử động khớp). Bệnh nhân sử dụng meloxicam 7,5
mg mỗi ngày và meloxicam 15 mg mỗi
ngày cho thấy cải thiện đáng kể từng tiêu chí này so với giả dược.
Việc sử dụng meloxicam để kiểm soát các dấu hiệu và triệu
chứng của viêm xương khớp đã được đánh giá trong sáu thử nghiệm mù đôi, có đối
chứng tích cực ở ngoài Hoa Kỳ, trong đó tổng số 9589 bệnh nhân được điều trị
trong 4 tuần đến 6 tháng. Trong những thử nghiệm này, hiệu quả của meloxicam,
với liều 7,5 và 15 mg/ngày, có thể so sánh với piroxicam 20 mg/ngày, diclofenac
SR 100 mg/ngày và phù hợp với hiệu quả đã thấy trong thử nghiệm ở Hoa Kỳ.
16. Quy cách đóng gói: Hộp 3 vỉ, 10 vỉ x 10 viên.
17. Điều kiện bảo quản: Nơi khô
thoáng, nhiệt độ dưới 30oC, tránh ánh sáng.
18. Hạn dùng: 36 tháng kể từ ngày
sản xuất.
19. Tiêu chuẩn: Tiêu chuẩn cơ sở.
Tên, địa chỉ của cơ sở sản xuất thuốc:
CÔNG TY CỔ PHẦN US PHARMA USA
Lô B1-10, Đường
D2, Khu công nghiệp Tây Bắc Củ Chi, ấp Bàu Tre 2, xã Tân An Hội,
Huyện Củ Chi, Thành
phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Mọi thắc mắc và thông tin chi tiết, xin liên hệ số điện thoại
028-37908860